Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự
Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

Download mẫu Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự được Luận Văn Luật gợi ý 1 số nội dung cơ bản cho các bạn sinh viên tham khảo khi viết bài tiểu luận môn Luật tố tụng dân sự, bài cơ bản đã được hoàn thiện, các bạn thêm thắt các ý vào nhé

Tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận của Luận Văn Luật để được hướng dẫn và viết bài đạt chất lượng, điểm số cao!

Đề cương Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

MỤC LỤC

PHẦN 1: XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THAM GIA TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ.

  1. Quy định của pháp luật điều chỉnh việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự
  2. Tình huống pháp lý phát sinh trên thực tế.
  3. Những vướng mắc bất cập và ý kiến đóng góp của sinh viên đối với việc hoàn thiện pháp luật đó 6

PHẦN 2: Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

  1. Chứng minh là quyền hay nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự? quá trình đó bắt đầu từ khi nào và kết thúc khi nào? Giải thích?. 8
  2. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng? giải thích?

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

XEM THÊM ===>  Bài học kinh nghiêm khi thực tập tại công ty Luật

XEM THÊM ===>  Báo cáo về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng theo pháp luật

XEM THÊM ===>  Tổng hợp 90+ đề án môn học ngành Luật điểm cao

PHẦN 1: Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

Quy định của pháp luật điều chỉnh việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự

            Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[1]. Đương sự trong vụ án dân sự chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự.

Xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự tức là xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự

Cơ sở của việc xác định tư cách tố tụng của đương sự (Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự)

– Xác định tư cách đương sự trên cơ sở xác định chủ thể có quyền khởi kiện, bị khởi kiện hoặc có quyền yêu cầu, có liên quan đến giải quyết yêu cầu thì Tòa án cần xem xét những vấn đề sau đây: chủ thể có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu hay không? Họ khởi kiện hoặc yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay người khác? Họ có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu với ai. Cần phải căn cứ vào bản chất của mỗi quan hệ pháp luật đang được xem xét, gái quyết và đối chiếu với các quy phạm pháp luật nội dung tương ứng để xác định tư cách của đương sự.

– Xác định tư cách của đương sự căn cứ vào sự liên quan về quyền, nghĩa vụ và vào thời điểm tham gia tố tụng đương sự đó.

Khi xem xét sự liên quan về quyền, nghĩa vụ mà xác định việc giải quyết mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn có liên quan đến quyền và lợi ích của chủ thể thứ ba thì tòa án cần xác định chủ thể này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đồng thời, khi xem xét yêu cầu giải quyết việc dân sự thì cần xác đúng việc giải quyết việc dân sự sẽ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những ai thì cần được xác định là người có liên quan.

Ngoài ra căn cứ vào thời điểm tham gia tố tụng cũng là cơ sở để xác định tư cách tham gia của đương sự là nguyên đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, có nhiều cơ sở để xác định tư cách chủ thể tham gia tố tụng, việc xác định chủ thể tham gia tố tụng chính xác sẽ giúp cho qua trình tố tụng được nhanh chóng, hiệu quả

* Đối với nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

            Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”.

Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự không những chỉ là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong vụ án dân sự còn là cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác. Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng

* Đối với bị đơn theo quy định tại khoản 3 điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Luật Tố Tụng Dân Sự

Như vậy, để được xác định tư cách bị đơn cần có các đặc điểm sau:

– Là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khởi kiện.

– Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự theo quy định tại khoản 4 điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. (Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự)

            Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm 2 loại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập:

Thứ nhất, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn[2].

Thứ hai, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn. Do đó, khi tham gia tố tụng, lợi ích pháp lý của họ phụ thuộc vào lợi ích pháp lý của nguyên đơn hoặc bị đơn. Tuy nhiên, họ vẫn có quyền quyết định trong phạm vi quyền lợi của mình[3].

[1] Khoản 1 điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La (2019), Chuyên đề: Nâng cao chất lượng hòa giải trong giải quyết các vụ việc dân sự, tr.2

[3] Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La (2019), Chuyên đề: Nâng cao chất lượng hòa giải trong giải quyết các vụ việc dân sự, tr.2

Những vướng mắc bất cập và ý kiến đóng góp của sinh viên đối với việc hoàn thiện pháp luật đó

            xác định đúng tư cách tố tụng của một người trong vụ án dân sự là tiền đề giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật có liên quan. Việc xác định sai tư cách của người tham gia tố tụng sẽ dẫn đến quyết định sai trách nhiệm dân sự, về quyền kháng cáo… sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ làm cho việc giải quyết các vụ án dân sự không được toàn diện, triệt để. Việc này dẫn đến làm sai lệch bản chất vụ việc, đây được coi là một vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy án[1]. Tuy nhiên, qua thực tiễn có thể nhận thấy rằng việc xác định tư cách tố tụng của đương sự có nhiều quan điểm khác nhay, không đồng nhất giữa những người tham gia tố tụng, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như giữa địa phương này với địa phương khác. Vấn đề này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như sau: Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

– Bất cập trong quy định của pháp luật

+ Khoản 1 điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Quy định này mới chỉ mang tính liệt kê thành phần đương sự mà không có quy định về khái niệm đương sự là gì? Do chưa được hướng dẫn cụ thể nên không ít trường hợp Tòa án đã xác định sai tư cách đương sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

+ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa có tiêu chí rõ ràng để phân biệt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập hầu hết Tòa án chỉ xác định tư cách của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan một cách chung chung. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc Tòa án thường xác đinh sai hoặc thiếu tư cách đương sự.

+ Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về phạm vi khởi kiện, trong một vụ án dân sự có thể nhiều nguyên đơn, bị đơn. Nhưng quy định này lại không cụ thể như thế nào là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn trong vụ án dân sự sẽ gây khó khăn rất lớn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự.

– Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án còn lúng túng trong việc xác định loại việc, quan hệ tranh chấp, thẩm quyền của Tòa án; sai sót trong việc xác định tư cách tố tụng của đương sự do chủ quan trong việc xác định quan hệ tranh chấp; quá phụ thuộc vào hồ sơ thụ lý vụ án.

– Trình độ pháp luật của người dân đặc biệt là người có tư cách đương sự còn hạn chế chưa hiểu rõ được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Từ những bất cập trên dưới sự hiểu biết hạn hẹp em xin kiến nghị những nội dung như sau:

Trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần:

–  Bổ sung khái niệm đương sự; hướng dẫn cụ thể về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; quy định cụ thể về đồng nguyên đơn, đồng bị đơn trong vụ án dân sự. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Luật Tố Tụng Dân Sự

– Về phía cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, trau dồi kiến thức pháp luật, bảo đảm phẩm chất, bản lĩnh chính trị. Thẩm phán cần phải phân biệt rõ tư cách đương sự của từng cá nhân, tổ chức khi tham gia tố tụng để giải quyết đúng đắn. Nên tổ chức các buổi hội thảo có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức để tuyên truyền pháp luật về đương sự như vậy sẽ tăng cường hiểu biết pháp luật về đương sự cho từng cá nhân, tổ chức.

– Để bảo đảm quyền lợi của mình người dân có tư cách đương sự nên tìm đến luật sư hoặc những người có hiểu biết pháp lý để có thể hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng

[1] Nguyễn Thị Tuyết (2020), “Một số dạng vi phạm, thiếu sót Tòa án thường mắc phải khi giải quyết án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và vụ án hành chính”, truy cập tại đường link https://vksbacgiang.gov.vn/chuyendephapluat/59/9753 ngày truy cập 10/08/2021.

Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự
Bài Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

PHẦN 2: Tiểu Luận Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng? giải thích?

Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng.

Căn cứ quy định tại điều 111 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

  1. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó. (Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự)
  2. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này”.

Điều 112 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: “Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

  1. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định”.

Tại khoản 2 điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ – HĐTP ngày 04 tháng 09 năm 2020 có quy định như sau: “Đối với vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải theo dõi, xem xét về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng khi có một trong các căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

Khoản 4 điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ – HĐTP ngày 04 tháng 09 năm 2020 có quy định như sau: “Trường hợp xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà người yêu cầu có đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án nhân dân đang thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 438 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết”.

Như vậy, căn cứ vào những quy định của pháp luật trên có thể thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Môn Luật Tố Tụng Dân Sự

 

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*