Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai, Môi Trường => 9Điểm

Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Đất Đai Môi Trường
Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Đất Đai Môi Trường

📢📢📢 Download Free!!! Download Nhanh !!! Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai là một đề tài tiểu luận chắc hẳn đang được rất nhiều bạn sinh viên quan tâm và tìm kiếm, chính vì thế ngay bây giờ đây các bạn hãy cùng mình xem và tham khảo nhé. Nguồn tài liệu mình đã liệt kê như là khái niệm đặc điểm của pháp luật,nội dung pháp luật về bồi thường tái định cư khi nhà nước thu hồi đất… Hy vọng với nội dung mình sắp triển khai dưới đây sẽ đem đến cho bạn thêm nhiều thông tin để bạn có thể tiến hành triển khai tốt bài tiểu luận của mình trong thời gian tới.

Trước kia chúng tôi đã từng viết bài mẫu tiểu luận luật đất đai giao dịch cho thuê quyền sử đụng đất hoàn toàn hay cũng không thua kém gì bài viết mình sắp triển khai các bạn có thể xem và theo dõi tại website luanvanluat.com của mình để cập nhật thêm được nhiều kiến thức đa dạng hơn. Ngoài ra, hiện nay bên mình có nhận viết thuê tiểu luận với những đề tài đạt điểm cao và chất lượng, cho nên nếu bạn đang có nhu cầu cần viết một bài tiểu luận hoàn chỉnh thì ngay bây giờ đây hãy tìm đến ngay dịch vụ làm thuê tiểu luận qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài tiểu luận và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

Phần Mở Đầu Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai

Như chúng ta đã biết, “đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai là nguồn tài nguyên giới hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người[1]”.

Trong những năm gần đây, “vấn đề thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp mang tính nhạy cảm bởi ảnh hưởng của vấn đề này đến tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng đất. Trong khi hệ thống pháp luật chính sách về đất đai nhà ở hiện nay chưa thực sự hoàn thiện còn những vấn đề bất cập cần sửa đổi, bổ sung, chính sách quản lí còn nhiều yếu kém…”[2]Có nhiều trường hợp, “người dân do không đồng tình với phương án bồi thường của Nhà nước đã không chịu bàn giao đất. Thậm chí do không đồng thuận với phương án bồi thường, người bị thu hồi đất tiến hành khiếu kiện kéo dài, tụ tập đông người gây mật trật tự an ninh xã hội và khiếu kiện vượt cấp gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội[3]”.

Việc nghiên cứu và tìm hiểu những cơ sở khoa học và thực tiễn là vấn đề có ý nghĩa mang tính cấp thiết. Chính vì thế sinh viên chọn chủ đề: “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất? Hãy liên hệ thực tế” làm chủ đề nghiên cứu Phần Nội Dung tiểu luận môn pháp luật về đất đai, môi trường.

XEM THÊM : Tham Khảo Dịch Vụ Viết Thuê Tiểu Luận

I.Khái niệm về “bồi thường, tái định cư” khi Nhà nước thu hồi đất

            Theo Từ Điển Tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường, đền bù những tổn hại đã gây ra”[4].

            Trong lĩnh vực pháp luật, “trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trách nhiệm này được nhiều ngành luật đề cập đến như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động…”[5].

            Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ “bồi thường” hay “đền bù thiệt hại” để thực hiện giải phóng mặt bằng ở Việt Nam được đặt ra từ rất sơm. Nghị định số 151/TTG ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) “Quy định về thể lệ tạm thời trưng dựng ruộng đất”, tại Chương II đề cập đến việc “Bồi thường đất cho người bị trưng dụng”; Thông tư số 1729/TTg ngày 11/01/1970 của Chính phủ về “Quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng kinh tế mở rộng thành phố” cũng đề cập đến vấn đề bồi thường Nhà nước khi thu hồi đất…Tuy nhiện, Luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành lại sử dụng thuật ngữ đề bù. Chỉ đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của Luật đất đai năm 2001 ra đời, thuật ngữ bồi thường mới được sử dụng trờ lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn ra đời kế thừa thuật ngữ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Theo quan niệm của Luật đất đai năm 2013: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất[6].

            Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý “chấm dứt quyền sử dụng đất” của người sử dụng đất. Việc “thu hồi đất” hướng tới mục đích: “Thứ nhất, thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước; Thứ hai, thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất[7]”.

            Luật đất đai cũng quy định  “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”[8].

            Tái định cư được hiểu là “một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó. Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế – xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung[9]”.

XEM THÊM : Kho 999+ Bài Mẫu Tiểu Luận Khoa Luật

II.Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về “bồi thường, tái định cư” khi thu hồi đất

            Pháp luật về “thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là tổng thể các quy định pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”.

            Pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai. Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đảm bảo công khai minh bạch, công bằng, dân chủ và đúng pháp luật[10]”.

            Pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ tái định cư” khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc điểm cơ bản sau:

            Thứ nhất, pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Do đường lối, quan điểm của Đảng và Hiến pháp xác định đất đai không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất

mà thuộc về toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trao quyền sử

dụng đất cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Do đó, pháp luật đất đai quy định khi

cần thiết thì Nhà nước có quyền thu hồi đất và người sử dụng đất được bồi thường thiệt hại”.

            Thứ hai, pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có các quy định về nội dung và các quy định về hình thức”.

            Các quy định về nội dung bao gồm quy định về: “đối tượng, điều kiện, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; quy định về giá đất bồi thường quy định về thẩm quyền thu hồi đất; quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất[11]”.

            Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai Môi Trường các quy định về hình thức bao gồm: “quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng – an ninh; phát triển Kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất[12]”.

            Thứ ba, “pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

thuộc lĩnh vực pháp luật công. Nó bao gồm các quy định điều chỉnh mối quan hệ phát

sinh chủ yếu giữa Nhà nước với người bị thu hồi đất trong việc giải quyết bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư. Nhà nước thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và dựa trên cơ sở quyền lực công[13]”.

            Thứ tư, “pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở

nước ta được xây dựng và hoàn thiện trong điều kiện việc sử dụng đất thường xuyên

biến động và công tác quản lý đất đai còn hạn chế[14]”.

XEM THÊM : Trọn Bộ 48+ Đề Tài Hay Dễ Làm Viết Tiểu Luận Ngành Luật Lao Động Phụ Trách

Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Đất Đai Môi Trường
Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Đất Đai Môi Trường

III.Nội dung pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ tái định cư” khi thu hồi đất

            3.1. Nguyên tắc “bồi thường, hỗ trợ tái định” cư khi thu hồi đất

            Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP. Nguyên tắc bồi thường: Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2013 được quy định tại 2 điều (Điều 41, 42 và 43) và trên thực tế không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành. Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã “tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt” (Điều 74 và Điều 88). Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện. Nội dung cụ thể nguyên tắc bồi thường như sau.

           Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai luật đất đai 2013 quy định về “nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” như sau: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật[15]”. Quy định trên phù hợp với nguyên tắc dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015. nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị thu hồi đất đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc chuyển mục đích sử dụng đất hoặc do sự đầu tư của Nhà nước mang lại.

            Nguyên tắc hỗ trợ, tái định cư được luật đất đai quy định như sau: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật[16]”.

            3.2. Mức bồi thường khi thu hồi đất

            Luật đất đai năm 2013 quy định: “Việc định giá đất phải đảm bảo nguyên tắc sau đây: a) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; b) Theo thời hạn sử dụng đất; c) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; d) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau[17]”.

            Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai về phương pháp định giá đất được thể hóa trong Nghị định số 44/2014/NĐ – CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ – CP ngày 01/2017/NĐ – CP ngày 06/01/2017.  Như vậy, Nhà nước không quy định điều chỉnh giá đất thị trường, không sử dụng giá đất thị trường để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi thu hồi đất mà tiền bồi thường được tính theo giá đất cụ thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định,

            Luật đất đai quy định: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”[18].

            3.3. Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

            Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: “a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; d) Hỗ trợ khác[19]”. Việc “hỗ trợ tái định cư” tại điểm c khoản 2 điều 83 được hướng dẫn bởi điều 22 Nghị định 47/2014/NĐ – CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định về “bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”. Điểm d khoản 2 điều 83 Luật đất đai năm 2013 được hướng dẫn bởi các điều 23,24,25 Nghị định 47/2014/NĐ – CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về “bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”. Qua nghiên cứu, có thể thấy pháp luật đã quy định rõ về chính sách hỗ trợ cho người sử dụng đất khi bị thu hồi trên thực tế.

Bài viết trên đây là Bài Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Đất Đai với những nội dung hoàn toàn hữu ích mà mình đã liệt kê và triển khai đến cho các bạn cùng xem và tham khảo, đây là một trong những đề tài tiểu luận đạt điểm cao cho nên các bạn có thể lựa chọn ngay đề tài này và áp dụng vào bài tiểu luận của mình, ngoài ra hiện tại bên mình đang có dịch vụ nhận viết thuê tiểu luận với nhiều đề tài phong phú khác nhau. Nếu bạn đang gặp trục trặc trong quá trình làm bài tiểu luận nhưng vẫn chưa thể nào giải quyết được thì đừng chần chữ nữa mà thay vào đó là hãy liên hệ ngay đến dịch vụ nhận viết tiểu luận của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ cho các bạn từ A đến Z nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Nguyễn Cảnh Qúy (2012), “Một số nội dung của Luật đất đai cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 15).

[2] Nguyễn Văn Tuấn (2020), Đánh giá thực trạng và đề xuất cho công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng dự án GS Metro City trên địa bàn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học quốc gia Hà Nội.

[3] Nguyễn Văn Tuấn (2020), Đánh giá thực trạng và đề xuất cho công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng dự án GS Metro City trên địa bàn huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học quốc gia Hà Nội.

[4] Nguyễn Như Ý (2009), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Thanh Niên, tr.73.

[5]Hoàng Thị Nga (2011), Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.10.

[6] Khoản 2 điều 13 Luật đất đai năm 2013.

[7] Hoàng Quốc Hùng (2017), Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện hành chính quốc gia,

[8] Khoản 14 điều 3 Luật đất đai năm 2013.

[9] Hoàng Thị Nga (2011), Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.18.

[10] Trần Trọng Nhân (2020), Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, tr.21.

[11] Trần Trọng Nhân (2020), Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, tr.23.

[12]Trần Trọng Nhân (2020), Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, tr.23.

[13] Hoàng Thị Nga (2011), Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.18

[14] Hoàng Thị Nga (2011), Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.18

[15] Điều 74 Luật đất đai năm 2013.

[16] Khoản 1 điều 83 Luật đất đai năm 2013.

[17] Khoản 1 điều 122 Luật đất đai năm 2013

[18] Khoản 2 điều 74 Luật đất đai năm 2013.

[19] Khoản 2 điều 83 Luật đất đai năm 2013.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*