Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê
Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, mượn, vay tài sản Đề thi: Theo anh (chị) trong nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận quy định về hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định trong Bộ Luật dân sự.

Đề cương Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

  • MỤC LỤC
  • PHẦN I: MỞ ĐẦU
  • PHẦN II: NỘI DUNG
  • 1. Những vấn đề liên quan đến “hợp đồng tặng cho tài sản”
  • 2. Giải quyết nội dung đề bài
  • 3. Những tồn tại, hạn chế liên quan đến “hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện”
  • 4. Nguyên nhân của bất cập và kiến nghị hoàn thiện
  • PHẦN KẾT LUẬN
  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lời mở đầu Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển, đời sống ngày càng nâng cao “các hợp đồng tặng cho tài sản” đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Theo tác giải Đỗ Thị Hồng Hạnh (2014), “Quan hệ vay tài sản là một loại quan hệ dân sự diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước cho phép các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác nhau được tự do, sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật và không bị hạn chế về vốn, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, việc huy động vốn trong kinh doanh đã trở nên hết sức sôi động. Việc vay vốn diễn ra giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức và đặc biệt là giữa cá nhân, tổ chức với các tổ chức tín dụng ”. Cũng từ đó, những tranh chấp liên quan đến loại hợp đồng này trên thực tế ngày càng phát sinh nhiều và phức tạp. Do vậy, “hoạt động công chứng có vai trò quan trọng đối với việc phòng ngừa những rủi ro pháp lý có thể xảy ra góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đó ổn định và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trong đời sống xã hội ”. (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản)

Có thể thấy rằng,“các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 đã góp phần tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ và phù hợp để các chủ thể xác lập hợp đồng tặng cho tài sản trong đó có hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện ”. Là một học viên học tập ở học viện tư pháp khóa 24. 2E việc nghiên cứu vận dụng những kiến thức, quy định pháp lý, rèn luyện kĩ năng hành nghề công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng rất bổ ích cho quá trình công tác sau này. Học viên đã vận dụng những kiến thức đã học của mình để hoàn thành bài báo cáo trong môn học “Công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê, trao đổi, mượn vay tài sản” với chủ đề: “Theo anh (chị) trong nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận quy định về hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định trong Bộ Luật dân sự”.

XEM THÊM:

===>  Báo cáo thực tập lĩnh vực: Kỹ năng chung về công chứng bản dịch

===> 91+ Lời Cảm Ơn Trong Tiểu Luận, Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp

Nội dung hoạt động Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

1. Những vấn đề liên quan đến “hợp đồng tặng cho tài sản”

1.1. Khái niệm, đặc điểm “hợp đồng tặng cho tài sản”

a. Khái niệm (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản)

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận ”.

Theo Từ tiển Tiếng Việt: “tặng có nghĩa là cho, trao cho để khen ngợi khuyến khích hoặc tỏ lòng quý mến”; “cho là chuyển cái sở hữu của mình sang người khác không đổi lấy gì cả”.

Trong luận văn của tác giả Trần Thị Minh Nghĩa: “Hợp đồng tặng cho tài sản là một quan hệ tặng cho được hình thành từ sự thoả thuận giữa các bên để thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu về sinh hoạt hằng ngày; còn pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản là sự quy định của Nhà nước đối với các bên trong việc thoả thuận về tặng cho tài sản ”.

Còn theo tác giả Nguyễn Văn Hiến: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận của các bên theo đúng quy định của pháp luật về tặng cho tài sản, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận ”. Ngoài ra, “hợp đồng tặng cho tài sản” còn được định nghĩa “là sự thể hiện ý chí, sự tự nguyện, tự do thỏa thuận trong khuôn khổ quy định pháp luật của các bên, theo đó bên tặng cho chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của mình theo quy định của pháp luật cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận ”.

Về cơ sở hình thành: “Hợp đồng tặng cho tài sản được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản ”.

Về tính chất: “Trao đổi ngang giá, đền bù tương đương: hợp đồng tặng cho tài sản luôn mang tính chất không đền bù ”.

Về thời điểm xác lập: “tặng cho phải được xác lập khi người tặng cho còn sống. Còn sau khi chết được xác định là di tặng ”.

Về đối tượng của hợp đồng: “đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản chính là tài sản ”.

Theo tác giả Lê Thị Giang (2020), “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó khi còn sống, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sỡ hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù; còn bên được tặng cho nhận chuyển giao tài sản. Hợp đồng tặng cho có thể kèm theo điều kiện tặng cho hoặc không” .

b. Một số đặc điểm của “hợp đồng tặng cho tài sản

Thứ nhất, “hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản ”. Dựa trên tiêu chí “chuyển giao quyền sở hữu tài sản” có thể phân chia hợp đồng dân sự thành hai loại: “Hợp đồng dân sự không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, đối tượng của loại hợp đồng này có thể là công năng sử dụng tài sản hoặc một công việc phải làm; Hợp đồng dân sự có chuyển giao quyền sở hữu tài sản, đối tượng của loại hợp đồng này là tài sả mà cụ thể hơn, đó là sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản sang người khác ”. Đối tượng của loại hợp đồng này là “tài sản” – “quyền sở hữu tài sản” chứ không đơn thuần chỉ là quyền chiếm hữu hoặc quyền sử dụng tài sản – giao tài sản. “Hợp đồng tặng cho cũng là một trong những căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu của một người đối với một tài sản ” (khoản 2 Điều 221 và Điều 223 Bộ luật Dân sự 2015). Không chỉ có vậy, hợp đồng tặng cho tài sản còn là căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu riêng của một người đối với một tài sản (Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014) khi người đó được tặng cho riêng tài sản; từ đó sẽ là căn cứ pháp lý để cho một người xác lập quyền định đoạt riêng đối với một tài sản.
Thứ hai, “việc chuyển quyền sở hữu tài sản này không có đền bù” .

Đối với hợp đồng mua bán tài sản, “để được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản, bên mua có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bán một khoản tiền; nói cách khác, đây chính là một khoản lợi ích mà bên mua phải bù trừ cho bên bán để bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản của mình sang cho bên mua. Không giống như vậy, việc chuyển quyền sở hữu tài sản từ người tặng cho sang người được tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản không kèm theo bất kỳ một yêu cầu bù trừ của người tặng cho. Có nghĩa là người tặng cho không có quyền yêu cầu và người được tặng cho cũng không có nghĩa vụ phải trả cho người tặng cho bất kỳ một khoản lợi ích vật chất nào cho dù bằng tiền hay bằng vật” . (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản) cầu công chứng

Thứ ba, dù “hợp đồng tặng cho tài sản” chỉ mang lại lợi ích cho “người được tặng cho” tuy nhiên hợp này bắt buộc phải có hai bên. Việc nhận và cho tài sản phải được sự bàn bạc, thống nhất ý chí của bên tặng cho lẫn bên được tặng cho.

Thứ tư, hợp đồng tặng cho có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện. Bộ luật dân sự quy định:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho ”. “Điều kiện” ở đây được quy định là “nghĩa vụ dân sự” mà bên được tặng cho phải thực hiện theo yêu cầu của bên tặng cho. Theo quy định tại điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Hợp đồng tặng cho tài sản vừa là hợp đồng đơn vụ trong trường hợp tặng cho tài sản không có điều kiện; vừa là hợp đồng so vụ trong trường hợp tặng cho tài sản có điều kiện.

1.2. Công chứng hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: “Là một trong những giao dịch thường gặp trong hoạt động công chứng, thủ tục công chứng hợp đồng tặng cho không có nhiều khác biệt so với việc công chứng các loại hợp đồng khác. Tuy nhiên đây là giao dịch dẫn đến chuyển dịch tài sản về quyền tài sản (tài sản và quyền tài sản được chuyển giao từ Bên tặng cho sang bên được tặng cho) nên trong hoạt động nghiệp vụ, công chứng viên phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về thủ tục và nội dung đối với loại hợp đồng này”.

Về chủ thể: bên tặng tài sản phải là chủ sở hữu tài sản kể cả trong trường hợp bên tặng cho tài sản giao kết hợp đồng tặng cho tài sản thông qua người đại diện.

Cá nhân công chứng viên phải xác định năng lực hành vi của người tham gia giao dịch được chia thành các trường hợp “người từ đủ 18 tuổi trở lên, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự. Đối với tổ chức chủ thể tham gia giao dịch dân sự là tổ chức có thể là hộ gia đình, pháp nhân ”. Bên được tặng cho phải đáp ứng những điều kiện để được sỡ hữu đối với tài sản đó.

Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê
Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê

Về khách thể: Khi nói đến hợp đồng tặng cho tài sản có nghĩa là “tài sản” được nhắc đến là “tài sản” theo nghĩa chung nhất theo quy định của luật dân sự và được phép lưu thông, đó có thể là “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015). Cũng như khách thể của các loại hợp đồng, giao dịch khác, khách thi của hợp đồng tặng cho tài sản cho dù tồn tại ở dạng nào: tài sản riêng tại sản riêng nằm trong khối tài sản chung, tài sản là vật, tài sản là tiền, tài sản là quyền tài sản, tài sản phải đăng ký theo quy định của pháp luật, tài sản không buộc phải đăng ký theo quy định của pháp luật… thi tài sản đó cũng phải đáp ứng được hai tiêu chí sau: “Phải có giấy tờ chứng minh được quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản đó; Phải là loại tài sản mà pháp luật cho phép lưu thông ”. (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản)

Trước khi Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ có hiệu lực thì mọi giao dịch về ngoại tệ không được Nhà nước cho phép; và như vậy cũng đồng nghĩa với việc trong thời gian trước đây ngoại tệ không thể là đối tượng được đem vào giao dịch của hợp đồng tặng cho tài sản.
Mặt khác, nếu một người yêu cầu công chứng đến đề nghị công chứng viên chứng nhận hợp đồng tặng cho tài sản là động sản không buộc phải đăng ký quyền sở hữu (ví dụ là vật dụng cá nhân như: đồng hồ, túi xách ) nhưng lại không thể xuất trình bất kỳ một giấy tờ nào chứng minh được tài sản đó thuộc quyền sở hữu của mình. Trong trường hợp này, công chứng viên cũng không thể chứng nhận được hợp đồng tặng cho tài sản.

– Nội dung của hợp đồng tặng cho tài sản phải xác định đối tượng của hợp đồng là gì? Điều 389 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: “Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp ”.

+ Mô tả tài sản được thực hiện theo hai cách: “Phần mô tả tài sản là đối tượng của hợp đồng được dựa vào mô tả cùng với phần mô tả thông tin về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Phần mô tả tài sản được nêu tại một điều khoản riêng của hợp đồng ”.

+ Phải có sự khẳng định ý chí mong muốn giao kết hợp đồng của cả bên tặng lẫn bên được tặng cho;

+ “Điều kiện” của việc tặng cho tài sản và điều kiện này không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

+ Thời hạn bàn giao tài sản và chuyển quyền sỡ hữu tài sản:

Điều 458 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”.

Khoản 2 điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

Khoản 2 điều 12 Luật nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sỡ hữu là kể từ thời điểm bên nhận góp vốn, bên nhận tặng cho, bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi nhà ở”.

Nguyên nhân của bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật về hợp đồng này là rất cần thiết. Trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, về điều kiện không được bán đối với tài sản tặng cho động sản, “bất động sản trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện nên được chấp nhận là điều kiện hợp pháp nhưng giới hạn bên tặng cho được bảo lưu quyền sở hữu trong một thời hạn cụ thể hoặc bên được tặng cho không được bán trong một thời hạn nhất định, sẽ đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các bên, quy định của luật, cũng như bảo đảm cho hợp đồng tặng cho được tôn trọng, đúng mục đích bên tặng cho mong muốn đạt được khi  tặng cho tài sản[1]”. Và “điều kiện trong hợp đồng tặng cho có điều kiện cần được xác định cụ thể, đảm bảo tính khả thi, tính khách quan. Điều kiện tặng cho không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Bên tặng cho được quyền bảo lưu quyền định đoạt hoặc giới hạn quyền định đoạt trong một thời hạn nhất định đối với tài sản tặng cho theo thoả thuận. Theo yêu cầu của bên tặng cho hoặc bên thứ ba có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Toà án có thể giải thích để đảm bảo điều kiện được thực thi theo luật định hoặc theo thoả thuận giữa các bên[2]”.

Thứ hai, “bổ sung nội dung về điều kiện của hợp đồng tặng cho có điều kiện. Bởi lẽ trong Bộ luật Dân sự 2015 chưa quy định rõ ràng rằng điều kiện đó có nhất thiết phải cần thể hiện ý chí của cả bên tặng cho và bên được tặng cho hay không? Mặc dù hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia nhưng nếu điều kiện của hợp đồng tặng cho nằm ngoài hợp đồng như trong trường hợp Án lệ số 14/2017/AL thì có cần là sự thỏa thuận hay không? Pháp luật chưa có quy định về việc điều kiện của hợp đồng tặng cho tài sản có cần sự thỏa thuận của các bên hay không hay chỉ là ý chí của một bên tặng cho tài sản[3]”. (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản)

“Hoàn thiện những yêu cầu cụ thể đối với điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện về việc điều kiện ấy nếu là nghĩa vụ thực hiện công việc nào đó thì công việc đó có cần là công việc có thể thực hiện được hay không? Nó có đem lại lợi ích cho bên tặng cho tài sản hay không?”.[4]

Về vị trí của điều kiện, “kiến nghị nhà làm luật quy định rõ ràng, cụ thể hơn về vị trí của điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Vị trí ở đây tức là điều kiện phải nằm trong hợp đồng thì mới có hiệu lực hay có thể nằm trong một văn bản pháp lý khác ngoài hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện[5]”.

Về tên gọi của hợp đồng như đã nêu ở bất cập trên: “nên quy định thống nhất tên gọi của hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất để tránh gây khó khăn cho cơ quan tố tụng (Tòa án) trong việc áp dụng thời hiệu[6]”.

Thứ ba, tiếp tục triển khai mạnh mẽ và thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tặng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật: Xây dựng nguồn nhân lực vững mạnh cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới; Sử dụng có hiệu quả và sáng tạo các hình thức, biện pháp là phương tiện phổ biến, giáo dục pháp luật; Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất cho công tác phổ biến và giáo dục pháp luật.

Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng pháp luật đối với công chứng hợp đồng tặng cho tài sản.

Thứ tư, “nghề công chứng luôn được nhìn nhận là một nghề tiềm ẩn nhiểu rủi ro. Để hạn chế tối đa những rủi ro này, công chứng viên, những người hoạt động trong lĩnh vực công chứng phải nắm được những kiến thức, kĩ năng cần thiết[7]”.

Một hồ sơ công chứng thường phải trải qua rất nhiều giai đoạn để có giá trị pháp lý nhưng phải đảm bảo tính pháp lý và thời gian từ giai đoạn tiếp nhận, kiểm tra, xử lý, nghiên cứu và soạn thảo văn bản công chứng thì đòi hỏi sự tư duy, độ nhạy bén hiểu biết về pháp luật của Công chứng viên tinh thông thì văn bản công chứng mới đạt tính pháp lý cao. (Báo cáo kết thúc học phần công chứng hợp đồng mua bán tài sản)

Công chứng viên phải “thật sự bình tĩnh, tôn trọng chú ý lắng nghe chủ động để nắm bắt yêu cầu công chứng. Khi thực hiện công chứng công chứng viên phải xác định cho đúng những giấy tờ cần phải có; kiểm tra, đánh giá những tài sản đã đầy đủ, hợp lệ hay chưa; việc tham gia của các chủ thể có đảm bảo sự tự nguyện, minh mẫn và tình trạng sáng suốt hay không? Đồng thời phải nắm vững những quy định pháp luật chung Bộ luật dân sự, Luật công chứng và những quy định pháp luật chuyên ngành liên quan đến tài sản mua bán[8]”.

Đối với “hợp đồng tặng cho tài sản” do các bên tự soạn công chứng viên ngoài việc “rà soát” các thỏa thuận này có vi phạm pháp luật, có trái đạo đức xã hội hay không thì cần xem xét nội dung hợp đồng đã rõ ràng, chặt chẽ, dễ hiểu, dễ thực hiện, bảo đảm quyền lợi cho các bên hay chưa… để từ đó đưa ra những kiến thức cần thiết cho các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Để làm được việc này đòi hỏi phải có sự cẩn trọng khi thực hiện công việc của mình

Kết luận Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, mượn, vay tài sản

“Hợp đồng tặng cho tài sản” là một trong những hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống xã hội. Khác với hợp đồng mua bán tài sản, giữa hai bên giao kết hợp đồng tặng cho tài sản thông thường có mối quan hệ tình cảm nhất định (tuy không nhất thiết phải có quan hệ ruột thịt, huyết thống).

Cùng với xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh tế và sự gia tăng nhanh chóng của các giao dịch dân sự trong đời sống, các quy định về hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng ngày cần phải hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn. Để tránh sự gia tăng các tranh chấp về hợp đồng tặng cho tài sản, các bên tham gia hợp đồng cần phải nắm rõ các quy định pháp luật và thực hiện theo đúng các yêu cầu pháp lý. Đồng thời, trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản, mỗi chủ thể phải tự có ý thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tránh xâm phạm đến quyền lợi của bên kia

Trên đây là nội dung báo cáo thực tập luật công chứng, Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, mượn, vay tài sản các bạn có thể tham khảo khi viết bài cho mình nhé, do nôi dung mình làm cơ bản các bạn thêm các nội dung mới vào bài cho đạt số lượng.

Các bạn có nhu cầu viết thuê báo cáo tốt nghiệp có thể liên hệ mình để được hỗ trợ viết bài đạt chất lượng cao nhé, chúc các bạn học viên làm tốt bài báo cáo thực tập của mình.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*