Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ, 9 Điểm

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ
Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ

📢📢📢 Tải Free !!! Tải Ngay !!! Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ Thật trùng hợp vì bài viết sau đây mình cũng sẽ giới thiệu đến cho các bạn nguồn tài liệu hoàn toàn hữu ích chẳng những thế còn đạt điểm cao nữa cơ đáng để xem và tham khảo.Nguồn tài liệu mình đã tiến hành liệt kê như là một số vấn đề lý luận cơ bản của thực tiễn pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại văn phòng luật sư hoàn toàn hữu ích…Chúc các bạn khi xem được bài viết này sẽ cung cấp được nhiều thông tin và tiến hành triển khai tốt bài báo cáo trong tương lai của bạn. 

Trước kia cũng tôi đã từng viết bài báo cáo thực tập tư vấn pháp luật taị công ty luật hoàn toàn xuất sắc.Ngoài ra, hiện nay bên mình có nhận viết thuê luận văn với đa dạng các đề tài phổ biến nhất hiện nay, nếu bạn đang loay hoay trong quá trình làm một bài báo cáo nhưng vẫn chưa thể hoàn thành được thì đừng quá lo lắng hãy nhanh chóng tìm đến dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ

1.1.Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.Khái niệm luật sư, văn phòng luật sư

1.1.1.1.Khái niệm luật sư

Trên thế giới, nghề luật sư đã xuất hiện trong xã hội từ rất lâu đời, ngay từ thời La Mã cổ đại và tồn tại, phát triển cho đến ngày nay. Tại mỗi thời điểm, phù hợp với đặc tính phát triển của xã hội mà nghề luật sư nói chung hay luật sư nói riêng lại được nhìn nhận, đánh giá với một góc độ, vị trí, tầm quan trọng khác nhau. Trong thời kỳ La Mã cổ đại đến Trung cổ, với bản chất của xã hội hà khắc và chuyên quyền, nghề luật sư phần lớn vẫn mang tính tự phát, chưa có quy củ hay những đặc tính nghề nghiệp nhất định. Ở giai đoạn này, vai trò của luật sư bị hạn chế rất nhiều. Bước sang chế độ tư bản, trên cơ sở của pháp luật, nhu cầu được bảo vệ quyền và lợi ích của con người ngày càng cao và được coi trọng. Điều này xuất phát từ việc các chính quyền nước tư sản mở rộng quyền dân chủ cho người dân dưới sức ép của các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi dân chủ thường xuyên diễn ra. Cũng bởi vậy, ở thời điểm này, luật sư dần khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong xã hội, trở thành một nghề tự do được công nhận. Từ đó cho đến ngày nay, khi các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển, nghề luật sư lại càng được trân trọng nhiều hơn. Tại Việt Nam, nghề luật sư còn được coi là một trong những nghề cao quý nhất của xã hội.

Với lịch sử ra đời từ rất lâu như vậy cũng khiến cho các khái niệm về luật sư được đưa ra trở nên nhiều và đa dạng. Theo cách hiểu của dân gian, “luật” được hiểu là luật pháp còn “sư” có nghĩa là thầy; hay nói một cách khác “luật sư có nghĩa là người thầy trong lĩnh vực pháp luật” mà nói theo ngôn ngữ dân gian thì chính là thầy cãi. Ở góc nhìn của nhà ngôn ngữ học, một số có quan điểm cho rằng luật sư là “người có chức trách dùng pháp luật để bào chữa cho bị can trước tòa án”– theo Đại từ điển Tiếng Việt được xuất hành bởi Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh[1].

XEM THÊM :Báo Giá Viết Thuê Báo Cáo Thực Tập

Có thể thấy rằng, hai khái niệm nêu trên mới chỉ đưa ra cách nhìn về luật sư dưới góc cạnh nhỏ của nghề luật sư là tranh tụng, điều này chưa bao quát được đầy đủ và tổng thể các hoạt động của luật sư hay đưa ra được cái nhìn khái quát, toàn diện về khái niệm luật sư.

Tại Việt Nam, để tạo sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật về luật sư, Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 đã đưa ra khái niệm dưới góc độ pháp lý như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)”[2]. Như vậy, với khái niệm này, luật sư vừa được nhìn dưới góc độ pháp lý với những “tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề” tuân theo quy định cụ thể của pháp luật; đồng thời được xét theo khía cạnh dân sự, thương mại khi “thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” là khách hàng của mình. Khái niệm này đã bao quát được khá toàn diện nội dung và bản chất của luật sư, vừa đảm bảo tính đầy đủ hoạt động nghề nghiệp, vừa đảm bảo tính tuân thủ quy định pháp luật.

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ bản thân tác giả đồng tính với khái niệm về luật sư được đưa ra tại Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012. Chính bởi vậy, nhằm đảm bảo tính thống nhất đối với các quy định của pháp luật và quan điểm của tác giả, nội dung bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này sẽ đi tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích về quyền và trách nhiệm của luật sư nói chung và tại VPLS Sài Gòn trẻ dựa trên tư tưởng về khái niệm luật sư theo quy định của pháp luật nêu trên.

1.1.1.2. Khái niệm văn phòng luật sư

Văn phòng luật sư không được đưa ra định nghĩa hay khái niệm cụ thể rõ ràng trong quy định tại Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012. Tuy nhiên căn cứ trên những quy định về Văn phòng luật sư tại luật này có thể hiểu rằng:

“Văn phòng luật sư là một tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức, hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, thực hiện công việc cung ứng dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật”.

Theo đó khái niệm này nêu ra được bản chất của văn phòng luật sư “một loại hình của tổ chức hành nghề luật sư” với đặc điểm vận hành tổ chức theo “loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Trong đó chủ sở hữu đồng thời là trưởng văn phòng là một luật sư. Ngành nghề kinh doanh, công việc thực hiện của văn phòng luật sư là cung cấp dịch vụ pháp lý trong phạm vi những nội dung được pháp luật cho phép.

XEM THÊM :79+ Đề Tài Viết Báo Cáo Tực Tập Luật Công Ty

1.1.2.Khái niệm quyền, nghĩa vụ

Trong khoa học pháp lý cũng như hệ thống pháp luật, thuật ngữ “quyền” và “nghĩa vụ” được sử dụng thường xuyên và phổ biến. Theo đó, thực tế hiện nay chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về khái niệm quyền hay nghĩa vụ nói chung mà mà chỉ đề cập đến hai thuật ngữ này dưới dạng từng phạm vi nhất định như: quyền của luật sư, quyền con người, quyền công dân hay nghĩa vụ của luật sư, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự,….

Xem xét trên khía cạnh về bản chất có thể hiểu quyền và nghĩa vụ là hai nội dung của quan hệ pháp luật.

Theo những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và đã được thừa nhận đưa vào hoạt động giảng dạy tại các trường đại học ở nước ta, khái niệm quyền và nghĩa vụ có thể được hiểu như sau:

Thứ nhất, khái niệm về quyền.

Quyền của một chủ thể được hiểu là “các xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành. Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép. Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sự như vậy”[3]

Theo khái niệm này, có thể nhận thấy quyền chính là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà phải được pháp luật cho phép. Theo đó quyền có khả năng được yêu cầu chấm dứt các hành động cản trở nó được thực hiện bởi các chủ thể khác hoặc yêu cầu chủ thể khác tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ quyền này. Không những vậy, bởi mang tính pháp lý, quyền còn có thể yêu cầu sự bảo vệ về lợi ích từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được bảo vệ bởi các cơ quan đó.

Có thể nói, quyền là một phạm trù, một khái niệm pháp lý có giới hạn nhất định được thực hiện bởi nguyên tắc cụ thể. Những nguyên tắc ghi nhận quyền phải đảm bảo xuất phát từ lợi ích của xã hội.

Thứ hai, khái niệm về nghĩa vụ.

Tương tự với quyền, nghĩa vụ cũng là một khái niệm mang tính pháp lý và được điều chỉnh bởi pháp luật. Nghĩa vụ có thể được hiểu như sau:

Nghĩa vụ là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác.” Nói một cách khác, “nghĩa vụ về mặt pháp lý tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sự cần thiết phải xử sự như vậy”[4].

Như vậy, có thể hiểu nghĩa vụ chính là việc phải xử sự theo quy định pháp luật thông qua việc phải tiến hành một hoặc một số hành vi nhất định, hay không được tiến hành, thực hiện một số hành vi nhất định. Nghĩa vụ pháp lý yêu cầu chủ thể phải chịu trách nhiệm về mặt pháp lý khi không thực hiện đúng với những quy định pháp luật đề ra.

Có thể nói rằng, quyền và nghĩa vụ là hai thành phần quan trọng, không thể thiếu trong một quan hệ pháp luật nhất định. Hai hiện tượng pháp lý này có mối quan hệ qua lại, liên kết chặt chẽ và không tách rời nhau, phù hợp và tương ứng với nhau. 

1.1.3.Khái niệm thực hiện pháp luật

Pháp luật là một trong những phương tiện được giai cấp thống trị sử dụng để quản lý xã hội. Tuy nhiên để đảm bảo được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò, giá trị đó, pháp luật cần phải được áp dụng vào trong thực tế cuộc sống. Khi đó được gọi là “thực hiện pháp luật”. Như vậy có thể khái quát khái niệm về thực hiện pháp luật như sau:

Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hóa các quy định của pháp luật, là cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”[5].

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ như vậy, xuất phát từ khái niệm nêu trên có thể thấy, thực hiện pháp luật bao gồm những yếu tố quan trọng như sau: (i) Thực hiện pháp luật là một trong những cách thức nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong tổ chức, quản lý xã hội; (ii) Thực hiện pháp luật là hành vi tuân thủ pháp luật của các chủ thể được pháp luật quy định; (iii) Thực hiện pháp luật giữ vai trò quan trọng trong hoạt động điều chỉnh và hoàn thiện pháp luật, là cơ sở thực tiễn để đánh giá tính khả thi của pháp luật; (iv) Thực hiện pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau thông qua những cách thức khác nhau.

1.2.Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư

1.2.1.Quy định về quyền của luật sư

Từ khái niệm đã đưa ra có thể hiểu luật sư hành nghề thông qua việc cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng và những dịch vụ này liên quan tới một số hoạt động nhất định: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác. Chính vì vậy, lĩnh vực hoạt động của luật sư có thể bao quát rộng rãi trong nhiều ngành luật khác nhau như hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại,… Do đó, những nội dung liên quan đến quyền của luật sư được quy định không chỉ trong hệ thống pháp luật chung về luật sư mà còn phổ rộng tại các văn bản pháp luật chuyên ngành phù hợp với từng lĩnh vực và yêu cầu đặc trưng riêng. Tuy nhiên, trong phạm vi bài báo cáo này tập trung tìm hiểu về các quyền chung nhất của luật sư trong hoạt động hành nghề. Theo đó những quyền này được quy định cụ thể và chi tiết tại Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Căn cứ theo quy định tại Điều 21 luật này, luật sư có tất cả năm quyền và có thể được ghép lại thành bốn quyền chính như sau:

Một là,được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan[6]

Quyền này được áp dụng và thể hiện cụ thể trong hoạt động hành nghề của luật sư. Ví dụ đảm bảo quyền hành nghề trong việc tham gia tố tụng như trợ giúp pháp lý, tranh tụng với tư cách là người bào chữa cho các bị can, bị cáo trong vụ án hình sự; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trong vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, lao động, người bị hại trong vụ án hình sự,… Hay đảm bảo quyền hành nghề trong hoạt động đại diện ngoài tố tụng như thay mặt các cá nhân, tổ chức làm việc với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xử lý, giải quyết những vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó[7].

Bên cạnh đó, như một lần nữa khẳng định lại việc ghi nhận quyền này của luật sư, Luật Luật sư một lần quy định nghiêm cấm đối với với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có “hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư” tại khoản 2 Điều 9 của Luật này. Các tổ chức, cá nhân hay cơ quan gây cản trở có thể bao gồm nhiều đối tượng nhưng chịu tác động nhiều nhất thường là từ phía các cơ quan nhà nước liên quan đến tố tụng hay xử lý hồ sơ giấy tờ về đại diện cho khách hàng. Chính bởi vậy, ngay trong các quy định pháp luật chuyên ngành như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính cũng đã đưa ra những quy định cụ thể để góp phần cụ thể hóa việc bảo vệ quyền của luật sư được hành nghề trong phạm vi pháp luật cho phép.

Có thể lấy ví dụ điển hình quy định về quyền của luật sư trong tố tụng hình sự tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của người bào chữa trong vụ án hình sự. Theo đó, điều này trao cho người bào chữa nói chung hay luật sư tham gia vụ án hình sự với tư cách người bào chữa nói riêng các quyền. Những quyền này được đưa ra giúp luật sư có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận, tham gia giải quyết các vụ việc cho khách hàng một cách đầy đủ, có hiệu quả nhất. Đồng thời, đây cũng là căn cứ giúp giảm thiểu những yêu cầu bất hợp lý, hay những khó khăn từ phía cơ quan nhà nước đối với quá trình tác nghiệp của luật sư. Có thể nói, những quyền này đã giúp khẳng định một lần nữa vị trí quan trọng của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng; tạo điều kiện để năng lực, vai trò của Luật sư ngày càng được nâng cao, phát huy, coi trọng trong quát trình hành nghề. Qua đó, đây cũng là cơ sở góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội.

Hai là,đại diện cho khách hàng theo quy định của pháp luật”[8].

Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện được hiểu là “việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Cụ thể hơn trong hoạt động hành nghề của luật sư thì đại diện cho khách hàng chính là việc luật sư nhân danh và vì lợi ích của khách hàng xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Như vậy, quyền được đại diện của luật sư và quyền yêu cầu đại diện của khách hàng là không bị giới hạn trừ trường hợp thực hiện các hành vi vi phạm quy định pháp luật.

Một số trường hợp luật sư đại diện cho khách hàng thường được áp dụng trên thực tế như: (i) Đại diện thực hiện công việc theo ủy quyền để đàm phán, thực hiện các giao dịch khác; (ii) Đại diện thực hiện các thủ tục pháp lý với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (iii) Đại diện đàm phán, giải quyết tranh chấp; (iv) Đại diện giải quyết tranh chấp, tham gia hoạt động thương lượng, hòa giải; (v) Đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng khi giải quyết tranh chấp tại tòa án;…

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ
Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ trong vai trò đại diện này, luật sư với vai trò là người hiểu rõ quy định của pháp luật có thể giúp khách hàng giải quyết được vấn đề một cách nhanh chóng, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật. Chính vì vậy, hoạt động gia cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có liên quan, bao gồm hoạt động đại diện cho khách hàng của luật sư cũng cần đảm bảo tuân thủ và thực hiện theo đúng quy định pháp luật về đại diện tại Bộ luật Dân sự 2015 nói chung và tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành liên quan đến nội dung được ủy quyền nói riêng. Đây cũng là một trong những căn cứ pháp lý liên quan trực tiếp đến lĩnh vực dịch vụ đại diện của luật sư nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và giải quyết các yêu cầu pháp lý một cách linh hoạt và hiệu quả nhất.

Ba là,hành nghề luật sư, lựa chọn hình thức hành nghề luật sư và hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của Luật này”[9]

Theo nội dung quyền này, luật sư có quyền được hành nghề luật sư nếu đảm bảo đáp ứng các điều kiện hành nghề theo quy định pháp luật và hoạt động hành nghề trong phạm vi hành nghề luật sư được pháp luật cho phép (cụ thể quy định tại Điều 10 và Điều 22 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012).

Bên cạnh đó, khi tham gia hoạt động nghề nghiệp, luật sư được quyền lựa chọn hình thức hành nghề luật sư phù hợp với bản thân. Trong đó, quy định pháp luật cho phép lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề luật sư sau:

Thứ nhất là “hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư”[10]. Trường hợp lựa chọn hình thức này luật sư có thể thành lập tổ chức hành nghề luật sư cá nhân hoặc tham gia cùng thành lập với những chủ thể khác. Ngoài ra, luật sư có thể lựa chọn hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư dưới dạng hợp đồng lao động được ký kết giữa hai bên.

Thứ hai là “hành nghề với tư cách cá nhân”[11]. Hành nghề theo tư cách cá nhân được hiểu là việc cá nhân là luật sư làm việc trong một tổ chức hay cơ quan không phải tổ chức hành nghề luật sư theo hợp đồng lao động.

Hai hình thức hành nghề luật sư này có đặc điểm và phạm vi nội dung công việc cũng như đối tượng khách hàng khác nhau. Do vậy, Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 cũng có những quy định cụ thể, chi tiết áp dung riêng đối với từng hình thức nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn, phát huy quyền của luật sư và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Mặt khác, trường hợp luật sư lựa chọn hình thức hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư thì luật sư đó còn được ghi nhận thêm quyền lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư phù hợp với mình. Theo đó, có hai hình thức hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật. Cụ thể: (i) Văn phòng luật sư tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân có luật sư là trưởng văn phòng; (ii) Công ty luật tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty luật hợp danh hoặc công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thành viên là luật sư theo số lượng tối thiểu cụ thể được quy định tại Điều 34 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012.

Nói một cách khác, quy định này trao cho luật sư được quyền tự quyết, tự lựa chọn cho hoạt động hành nghề của mình trong sự cho phép của pháp luật. Không một cá nhân nào có quyền bắt buộc, áp đặt luật sư phải hành nghề luật sư, hay chọn tổ chức hành nghề luật sư hay chọn lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư,… của luật sư đó.

Bốn là,hành nghề luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam” và “hành nghề luật sư ở nước ngoài”[12].

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ quyền này cho thấy pháp luật nước ta không giới hạn về phạm vi lãnh thổ hành nghề của luật sư. Cụ thể tổ chức hành nghề luật sư có thể đặt chi nhánh của mình ở bất kỳ địa phương nào thuộc lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở được Sở Tư pháp của địa phương đó cho phép. Đồng thời, với việc hoạt động hành nghề luật sư ở nước ngoài, pháp luật cũng ghi nhận cho phép tổ chức hành nghề luật sư “được đặt cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài” và chỉ cần thực hiện thủ tục thông báo theo quy định của pháp luật. Những nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 41, Điều 43, Điều 44 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012. Đây có thể coi là một sự tiến bộ của quy định pháp luật nước ta, nhà lập pháp đã hướng tới được xu thế hội nhập toàn cầu đối với hoạt động hành nghề của luật sư.

Bên cạnh đó, việc ghi nhận quyền nêu trên cũng giúp luật sư có thể mở rộng phạm vi hành nghề, thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư. Cụ thể, nếu như trong một giới hạn địa lý, số lượng luật sư nhiều thì khách hàng có quyền lựa chọn luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý tốt hơn, đáng tin tưởng hơn. Điều này tạo động lực cho các luật sư trong việc nâng cao năng suất cũng như hiệu quả nghề nghiệp trong quá trình hành nghề của mình nhằm tạo dựng niềm tin, danh tiếng và hình ảnh tốt nhất tới khách hàng

1.2.2.Quy định về nghĩa vụ của luật sư

Nghĩa vụ của luật sư được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012, bao gồm tất cả 6 nghĩa vụ như sau:

Một là “tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật sư quy định tại Điều 5 của Luật này”[13].

Cụ thể những nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 5 bao gồm:

“1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật”. Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, bởi vậy tinh thần thượng tôn pháp luật được luôn được coi trọng, đề cao và khẳng định xuyên suốt trong quan điểm cũng như tư tưởng xây dựng và phát triển đất nước. Đó là nghĩa vụ của toàn dân, của mỗi cá nhân, tổ chức, của mọi ngành nghề trong đó bao gồm cả luật sư. Chính bởi vậy trong quá trình hành nghề của mình, luật sư có nghĩa vụ cũng như trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật. Theo một hướng nhìn khác, luật sư với tư cách là một người học luật, làm về luật, am hiểu pháp luật thì hơn ai hết càng cần phải có ý thức tuân thủ, thực hiện và áp dụng pháp luật.

“2. Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam”. Những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam được ban hành bởi Hội đồng luật sư toàn quốc theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ vào ngày 13 tháng 12 năm 2019 tại Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (sau đây gọi là “Bộ Quy tắc”). Theo đó bộ quy tắc này là tổng hợp những quy phạm nội bộ về quy tắc xử sự nghề nghiệp của luật sư trong các quan hệ với những chủ thể khác có liên quan khi hành nghề. Những quy định này xoay quanh vấn đề trách nhiệm của luật sư mà theo đó được gọi là trách nhiệm đạo đức và sẽ được phân tích cụ thể tại phần sau.

“3. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan”. Tính độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan của luật sư được thể hiện trong cách nhìn và hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Theo đó, luật sư cần giữ cho mình “một cái đầu lạnh, một trái tim nóng và một bàn tay sạch”, không được vì lợi ích cá nhân (vật chất hay tinh thần) hoặc bởi bất kỳ áp lực nào mà làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn được thể hiện rõ hơn nữa trong mối quan hệ của luật sư đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như đối với khách hàng.

“4. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng”. Với đặc điểm và bản chất là một nghề dịch vụ, đồng thời hoạt động của luật sư liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích pháp lý hợp pháp của khách hàng, do vậy chất lượng dịch vụ của luật sư cũng được coi như một trong những nguyên tắc cần đảm bảo. Theo đó, chất lượng này không được đo bằng kết quả công việc của khách hàng mà được thể hiện qua sự cố gắng và cách thức cung cấp dịch vụ của luật sư.

“5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”. Theo đó, trường hợp luật sư vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm đó. Bên cạnh những vi phạm đối với pháp luật chuyên ngành hay chịu trách nhiệm với vai trò như một người công dân, trường hợp luật sư vi phạm các quy định của pháp luật về luật sư sẽ phải chịu các chế tài theo quy định tương ứng đối với luật sư đó.

Hai là “nghiêm chỉnh chấp hành nội quy và các quy định có liên quan trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng; có thái độ hợp tác, tôn trọng người tiến hành tố tụng mà luật sư tiếp xúc khi hành nghề”[14].

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ đặc trưng nghề nghiệp của luật sư, đặc biệt đối với dịch vụ tranh tụng thường xuyên phải tiếp xúc với những cơ quan tiến hành hành tố tụng (như Toà án, Viện kiểm sát) và người tiến hành tố tụng (như Thẩm phán, Kiểm sát viên,…). Đây là những cơ quan đại diện cho nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước trong việc giải quyết những vụ việc trong các lĩnh vực pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, trong hoạt động hành nghề của mình, luật sư cần giữ thái độ đúng mực, chấp hành đầy đủ các quy định, nội quy, đồng thời thể hiện thái độ tôn trọng, cẩn mực, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Ba là “tham gia tố tụng đầy đủ, kịp thời trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu”[15]

Trách nhiệm này được đưa ra như một lần nữa nhấn mạnh thêm nghĩa vụ, trách nhiệm của luật sư trong việc hợp tác và hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng thông qua việc tham dự các hoạt động được yêu cầu. Cụ thể, việc tham dự ở đây phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời, góp phần giúp người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ, cơ sở để nhanh chóng giải quyết được vấn đề, tìm ra sự thật khách quan và bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan.

Bốn là “thực hiện trợ giúp pháp lý”[16]

Theo quy định tại Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trợ giúp pháp lý được định nghĩa là “việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”. Trợ giúp pháp lý chính sách được Đảng và Nhà nước ta đưa ra, mang đậm tính chất nhân đạo, nhằm hỗ trợ, giúp đỡ và đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân trong nhà nước. Chính sách này chủ yếu hướng tới những đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận, hiểu và nắm bắt thông tin pháp lý, dịch vụ pháp lý hoặc những đối tượng đặc biệt khác như người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người già, trẻ em, người khuyết tật, người có công với cách mạng,… Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý góp phần phổ cập, nâng cao hiểu biết cũng như ý thức, tinh thần thượng tôn pháp luật trong quần chúng nhân dân, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Có thể nói trách nhiệm này như một lần nữa khẳng định nghĩa vụ, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý và công bằng trong xã hội, là trách nhiệm của luật sư đối với xã hội, cộng đồng.

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ nhìn vào những quy định của Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 thấy rằng trách nhiệm này còn được đề cập đến không chỉ một lần trong hệ thống quy phạm pháp luật. Tại khoản 1 Điều 31 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012một lần nữa đưa ra yêu cầu đối với hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, theo đó, mặc dù trợ giúp pháp lý không có thù lao nhưng bản thân luật sư cũng phải đặt được cái tâm, sự tận tụy của mình đối với người được trợ giúp pháp lý như những khách hàng trong các vụ việc mà luật sư được trả thù lao.

Năm là “tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ”[17]

Như đã được nhắc tới nhiều lần, hoạt động nghề nghiệp của luật sư có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới quyền và nghĩa vụ của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, chính bởi vậy chuyên môn, nghiệp vụ của một luật sư cũng được yêu cầu rất cao. Đặc biệt, trong một xã hội không ngừng vận động và phát triển, những mối quan hệ xã hội phát sinh ngày một đa dạng, phức tạp, phạm vi quan hệ được mở rộng ra tầm khu vực thế giới đòi hỏi bản thân luật sư cần phải phát triển theo để vừa không tụt lại phía sau vừa đáp ứng được những yêu cầu thời điểm mà khách hàng đưa ra.

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ việc tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ và phải đảm bảo tuân thủ đúng, đủ thời gian, số lượng, nội dung bồi dưỡng theo quy định. Nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ có thể bao gồm một hoặc một số nội dung liên quan đến: “(i) Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư; (ii) Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật; (iii) Kỹ năng hành nghề luật sư và kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động hành nghề luật sư;…”[18].Theo quy định, việc bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư có thể được tổ chức dưới hình thức khóa bồi dưỡng hoặc thông qua hoạt động trao đổi kinh nghiệm.

Mặc dù pháp luật quy định đó là nghĩa vụ bắt buộc, tuy nhiên bản thân mỗi luật sư cũng cần nhận định rõ ràng rằng đây là trách nhiệm, là hoạt động cần thiết quan trọng trong quá trình hành nghề của mình. Theo đó, khóa bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ không chỉ giúp hoàn thiện cá nhân luật sư nói riêng mà còn giúp nâng cao chất lượng của nghề luật sư trong xã hội nói chung, tạo nền tảng tri thức vững chắc, phù hợp cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư, góp phần bảo vệ công bằng cho xã hội.

Sáu là “các nghĩa vụ khác theo quy định”[19].

Bên cạnh những nghĩa vụ nêu trên, luật sư còn cần tuân thủ, đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh, chấp hành theo một số nghĩa vụ khác được quy định tại Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012.

1.2.3.Các hành vi bị cấm đối với luật sư

Bên cạnh việc những nghĩa vụ của luật sư cần phải thực hiện trong quá trình hành nghề đã được phân tích ở trên, Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 cũng hệ thống những hành vi nghiêm cấm đối với luật sư, hay nói cách khác là luật sư không được thực hiện khi hành nghề tại khoản 1 Điều 9, bao gồm tất cả 8 hành vi như sau:  

Một làcung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc)”[20]. Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng khi thuê dịch vụ pháp lý của luật sư. Bởi lẽ khi luật sư cùng cung cấp dịch vụ pháp lý trong cùng một vụ án với sự tham gia của cả hai bên có quyền lợi và nghĩa vụ đối lập nhau sẽ tạo ra tính thiếu khách quan, lộ thông tin khách hàng trong nội dung được tư vấn hay dịch vụ pháp lý được thực hiện. Như vậy, quyền và lợi ích của khách hàng sẽ không được đảm bảo và luật sư dễ bị chi phối bởi yếu tố lợi nhuận trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Hai là,cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật”[21]. Những hành vi bị cấm được liệt kê ở trên liên quan đến việc luật sư xúi giục khách hàng thực hiện các nội dung vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội. Do vậy, với vai trò là người góp phần giữ gìn, xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền, hành động này không thể được chấp nhận,

Ba là, “tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”[22]. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng, mà cụ thể là quyền bảo mật thông tin cá nhân, quy định này đã đưa vào những giới hạn trong việc sử dụng thông tin của khách hàng đối với luật sư. Theo đó, với những thông tin của khách hàng mà luật sư biết được trong quá trình hoạt động với khách hàng thì không được tiết lộ cho bên thứ ba biết, trừ trường hợp được sự đồng ý bằng văn bản của khách hàng hay theo yêu cầu của pháp luật quy định.

Bốn là, “sách nhiễu, lừa dối khách hàng”; “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý”[23]. Theo quy định này, luật sư không được thực hiện những hành vi lừa dối, gây khó dễ cho khách hàng hay đòi hỏi thêm những khoản thù lao khác ngoài hợp đồng. Nội dung này được quy định cũng góp phần trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng, loại bỏ tình trạng khách hàng bị luật sư gây khó dễ, thực hiện những hành vi tiêu cực.

Năm là,móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc”[24]. Quy định này được ban hành nhằm đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động pháp lý, loại trừ tình trạng tham nhũng, lợi dụng chức quyền để thu lợi cho bản thân từ phía các cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Sáu là,lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”[25]. Mục đích cấm hành vi này trước hết nhằm đảm bảo lợi ích và sự an toàn của an ninh quốc gia, giữ gìn ổn định trật tự, an toàn xã hội, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, công cộng, cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó quy định này còn góp phần định hướng xây dựng hình ảnh của người luật sư, nghề luật sư, khẳng định vai trò và phần công sức của luật sư trong việc xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền tại nước ta.

Bảy là,nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật”[26]. Quy định này đưa ra để nêu rõ trách nhiệm của luật sư trong việc thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý: cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, đảm bảo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tám là,có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng”; “tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác”[27]. Nội dung quy định này nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác và đặc biệt là cơ quan tố tụng, cơ quan nhà nước trong hoạt động tham gia tố tụng của luật sư.

1.3.Nhận thức về thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại văn phòng luật sư

Văn phòng luật sư với vai trò là một tổ chức hành nghề luật sư, cùng các luật sư hoạt động tại văn phòng là hai trong những chủ thể đại diện cho luật sư trong xã hội. Vì vậy, trong quá trình hành nghề việc hiểu, nắm vững và nhận thức được rõ quyền, nghĩa vụ của luật sư là vô cùng quan trọng và cần thiết để hoạt động của văn phòng luật sư nói chung và luật sư tại văn phòng luật sư được hiệu quả, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.

Theo đó, xuất phát từ chính khái niệm về “thực hiện pháp luật” đã được phân tích ở trên, việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại văn phòng luật sư chính là việc thực hóa các quy định pháp luật, góp phần đưa quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chính ngành nghề mình vào trong thực tế cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của luật sư. Với vai trò là một ngành nghề có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền Việt Nam thì việc thực hiện pháp luật đối với luật sư nói chung và thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại văn phòng luật sư nói riêng càng trở nên quan trọng.

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ việc thực hiện pháp luật về quyền của luật sư tại văn phòng luật sư cần được quan tâm và khuyến khích thực hiện, tự ý thức bảo vệ trong mọi hoạt động, đặc biệt trong quan hệ với các chủ thể khác trong xã hội: cơ quan tố tụng, cơ quan hành chính, khách hàng. Luật sư cần phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ về quyền được hưởng của mình để phát huy tối đa vai trò, chức năng và vị trí nghề nghiệp khi cung cấp dịch vụ pháp lý. Qua đó đây cũng là cơ sở nền tảng, cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của luật sư. Xét về nghĩa vụ, luật sư cần ghi nhớ và bắt buộc thực hiện trong toàn bộ quá trình hành nghề của bản thân. Đây là những nội dung điều chỉnh hành vi bằng hành động hoặc không hành động đối với luật sư nhằm đảm bảo hoạt động hành nghề của luật sư đi đúng mục đích, vai trò của mình: bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho khách hàng, góp phần bảo vệ nhà nước pháp quyền

Để hiểu, áp dụng một cách hiệu quả và phù hợp những quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình hành nghề, bản thân luật sư nói chung và luật sư trong văn phòng luật sư nói riêng cần phải có được nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của những quy định này. Với việc nhận thức đúng đắn, bản thân luật sư mới có thể chủ động, nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi của mình và tuân thủ nghiêm túc quy định về nghĩa vụ được đặt ra cho đội ngũ luật sư.

1.4.Ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư

Việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư có vai trò và mang lại những giá trị tích cực, ý nghĩa cho xã hội và chính hoạt động hành nghề của luật sư.

Đầu tiên, việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ có luật sư có ý nghĩa đối với chính hoạt động hành nghề của luật sư. Có 3 ý nghĩa chính có thể kể ra như sau:

Một là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư giúp xây dựng hành lang pháp lý vững chắc nhằm tạo điều kiện cho luật sư hành nghề một cách hiệu quả, đúng đắn, trên tinh thần tuân thủ pháp luật.

Hai là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư giúp hoạt động hành nghề của luật sư thuận lợi và hiệu quả hơn với sự giúp đỡ, hỗ trợ, thấu hiểu và tạo điều kiện từ phía các chủ thể khác có liên quan dưới sự bảo vệ của pháp luật.

Ba là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư góp phần tạo ra kỷ cương, nền nếp và thói quen trong hoạt động hành nghề của luật sư theo một chuẩn mực phù hợp nhất định, qua đó góp phần xây dựng và làm đẹp hình ảnh của luật sư đồng thời khẳng định tầm quan trọng, vị thế, vai trò của luật sư trong xã hội.

Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ sau đó, việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ có luật sư có ý nghĩa đối với xã hội. Có … ý nghĩa chính như sau:

Một là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư giúp phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người của luật sư. Theo đó, luật sư thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời được bảo vệ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ này sẽ gián tiếp giúp đảm bảo quyền lợi của khách hàng không bị xâm phạm bởi các chủ thể khác.

Hai là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư góp phần nâng cao ý thức thực hiện pháp luật của mọi người xung quanh. Theo đó thông qua viêc bảo vệ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư, đồng thời các chủ thể khác cũng cần phải điều chỉnh và có hành vi phù hợp để không xâm phạm với quyền này. Qua đó, việc ý thức thực hiện pháp luật sẽ dần được nâng cao trong tư tưởng, suy nghĩ và hành động của các chủ thể khác xung quanh.

Ba là, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư góp phần lớn trong công cuộc đảm bảo an ninh – trật tự, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và bảo vệ, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Khi pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mục đích của việc đặt ra pháp luật sẽ đạt được, khi đó pháp luật sẽ phát huy tối đa chức năng, vai trò của mình trong công cuộc quản lý và xây dựng xã hội như bản chất hiện hữu.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thông qua những nội dung phân tích, nghiên cứu tại chương 1 có thể kết luận một số nội dung như sau:

Một là, luật sư và văn phòng luật sư là cá nhân và một trong những loại hình tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật. Với vai trò, chức năng và tầm ảnh hưởng trong xã hội, những chủ thể này trong quá trình hoạt động nghề nghiệp được trao cho các quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định được quy định tại Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012. Nội dung và cách hiểu chi tiết về những quy định này được được phân tích cụ thể tại toàn bộ chương.

Hai là, việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư nói chung và luật sư tại văn phòng luật sư nói riêng là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa. Theo đó, những quy định này cần được áp dụng (quyền) và bắt buộc phải áp dụng (nghĩa vụ) trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư thông qua sự nhận thức đúng đắn và chủ động của đội ngũ luật sư cùng các chủ thể khác có liên quan mới phát huy đầy đủ nhất ý nghĩa của nó. Giá trị việc thực hiện những quy định pháp luật này mang lại không chỉ là những ý nghĩa tích cực đối với luật sư mà còn góp phần xây dựng và tạo nên sự tốt đẹp trong xã hội.

Bài viết trên đây là Báo Cáo Thực Tập Tại Văn Phòng Luật Sư Sài Gòn Trẻ là một trong những đề tài hoàn toàn xuất sắc mà mình đã liệt kê đầy đủ và gửi gấm trên đây cho các bạn cùng xem và theo dõi. NẾu như nguồn tài liệu mình triển khai trên đây chưa đủ để làm hài lòng bạn thì hãy tìm đến dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập ngành luật của chúng tôi qua zalo.telegram : 0917.193.864 mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết nhanh chóng nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2008), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 970.

[2] Quốc hội (2006), Điều 2 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012.

[3] Lê Minh Tâm (Chủ biên) và các tác giả (2009), Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, tr. 454.

[4] Lê Minh Tâm (Chủ biên) và các tác giả (2009), Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, tr. 455.

[5] Lê Minh Tâm (Chủ biên) và các tác giả (2009), Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, tr. 468.

[6] Quốc hội (2006), điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[7] Sinh viên HLU, Phân tích quyền và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật hiện hành, truy cập tại link: https://svhlu.blogspot.com/2016/09/phan-tich-quyen-va-nghia-vu-cua-luat-su.html

[8] Quốc hội (2006), điểm b khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[9] Quốc hội (2006), điểm c khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[10] Quốc hội (2006), khoản 1 Điều 23Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[11] Quốc hội (2006), khoản 2 Điều 23Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[12] Quốc hội (2006), điểm d, điểm đ khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[13] Quốc hội (2006), điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[14] Quốc hội (2006), điểm b khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[15] Quốc hội (2006), điểm c khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[16] Quốc hội (2006), điểm d khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[17] Quốc hội (2006), điểm đ khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[18] Hồng Luyến (2019), Nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư, Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình, truy cập tại link: https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/nghia-vu-tham-gia-boi-duong-bat-buoc-ve-chuyen-mon-nghiep-vu-cua-luat-su.htm

[19] Quốc hội (2006), điểm e khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[20] Quốc hội (2006), điểm a khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[21] Quốc hội (2006), điểm b khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[22] Quốc hội (2006), điểm c khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[23] Quốc hội (2006), điểm d, đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[24] Quốc hội (2006), điểm e khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[25] Quốc hội (2006), điểm g khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[26] Quốc hội (2006), điểm h khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

[27] Quốc hội (2006), điểm i, k khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*