Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014

Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014
Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014

Bạn đang cần tìm Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014? Bạn đang là sinh viên học chuyên ngành luật? Bạn cần thêm nguồn tài liệu để có thể tiến hành làm bài luận văn của mình, thật trùng hợp vì bài viết sau đây mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn nguồn tài liệu vô cùng hữu ích đáng để xem và theo dõi. Nguồn tài liệu đã được mình triển khai bao gồm như là khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn,căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2014… Hy vọng nguồn tài liệu mình sắp triển khai dưới đây sẽ tích luỹ được cho các bạn thật nhiều kinh nghiệm để có thể nhanh chóng hoàn thành bài luận văn.

Chưa dừng lại ở đó, ngoài việc chia sẻ nguồn tài liệu này thì hiện tại bên mình có nhận viết thuê luận văn với đa dạng đề tài phổ biến nhất hiện nay, để có thể hoàn thiện một bài luận văn thì cần rất nhiều thời gian cũng như công sức, nếu với khả năng của bạn chưa đủ để làm bài luận văn hoặc thậm chí là đề tài quá khó so với sức của bạn… Tất cả mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết nhanh chóng chỉ cần bạn tìm đến ngay dịch vụ nhận viết thuê luận văn qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài luận văn trọn gói và hỗ trợ cho đến khi bảo vệ thành công.

1. Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn

1.1 Khái niệm ly hôn

Ly hôn là một hình thức để chấm dứt hôn nhân do Toà án (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận sự thuận tình ly hôn theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng. Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, giải quyết ky hôn; có vai trò quan trọng trong việc góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích về ly hôn như sau: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án”.

Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014 khái niệm ly hôn có ý nghĩa rất quan trọng, khái niệm đó cần phản ánh được quan điểm của Nhà nước về ly hôn, tạo tiền đề lý luận cho việc xác định bản chất của ly hôn, căn cứ để giải quyết ly hôn và các vấn đề phát sinh khác.

Việc Toà án quyết định cho vợ chồng ly hôn hay bác đơn yêu cầu ly hôn cũng phải dựa trên cơ sở áp dụng chính xác căn cứ ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn. Tuy nhiên để đánh giá đúng bản chất quan hệ hôn nhân như thế nào là đã ở vào “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và quan hệ hôn nhân đã đổ vỡ, không thể hàn gắn được là một vấn đề nhạy cảm, hết sức khó khăn và phức tạp.

XEM THÊM : Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

1.2. Khái niệm căn cứ ly hôn

Nhà nước công nhận quyền tự do ly hôn, tuy nhiên việc ly hôn phải dựa trên bản chất của mối quan hệ hôn nhân, đồng thời đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng và các bên liên quan. Như vậy, để đảm bảo những yếu tố trên, nhà lập pháp dự liệu những cơ sở, căn cứ giải quyết ly hôn và yêu cầu kiểm soát việc ly hôn thông qua Toà án. Toà án khi giải quyết ly hôn phải áp dụng chính xác nội dung căn cứ ly hôn và chỉ được quyết định cho vợ chồng ly hôn khi thực chất quan hệ hôn nhân đã tan vỡ. Ý chí của vợ chồng không phải điều kiện cần và đủ để Toà án chập thuận việc giải quyết yêu cầu ly hôn. Việc giải quyết yêu cầu ly hôn phải được dựa trên các điều kiện cần và đủ về phương diện pháp lý của căn cứ ly hôn theo quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014.

Việc ly hôn phải dựa trên bản chất của mối quan hệ hôn nhân là thực sự tan vỡ và không thể hàn gắn được. Khi xem xét giải quyết ly hôn, Toà án phải đảm bảo các quyền, lợi ích chính đáng của vợ chồng và các bên liên quan (nếu có) trong quan hệ HN&GĐ. Để đảm bảo những yếu tố đó, nhà lập pháp phải dự liệu được những cơ sở, căn cứ giải quyết ly hôn và yêu cầu kiểm soát việc ly hôn thông qua Toà án. Toà án khi giải quyết ly hôn phải áp dụng chính xác nội dung căn cứ ly hôn và chỉ được quyết định cho vợ chồng ly hôn khi thực chất quan hệ hôn nhân đã tan vỡ.

Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014 từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa căn cứ ly hôn như sau: Căn cứ ly hôn là những cơ sở, lập luận dựa trên những biểu hiện mang tính khách quan của một số quan hệ hôn nhân mà dựa vào đó, trên cơ sở yêu cầu của một bên hoặc cả hai vợ chồng, Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án xét xử cho ly hôn.

2. Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nội dung căn cứ ly hôn trong các trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn (Điều 55) và một bên có yêu cầu ly hôn (Điều 56).

                2.1. Căn cứ ly hôn trong trường hợp các bên thuận tình ly hôn

Đối với trường hợp này, Điều 55 quy định: “trong tường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án giải quyết việc ly hôn”.

Như vậy, trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân, tức ly hôn. Ngoài ra, trong việc thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Toà án mới quyết định giải quyết việc ly hôn.

XEM THÊM : 47 Đề Tài Luận Văn Ngành Luật, Khoá Luận Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014
Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân 2014

Sự tự nguyện ly hôn của vợ và chồng thể hiện bằng đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn do vợ và chồng cùng ký. Vợ chồng tự nguyện ly hôn phải trên cơ sở họ thật sự mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân. Nếu vợ chồng tự nguyện ly hôn nhưng là để chấm dứt ly hôn về mặt pháp lý nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trên thực tế thì là ly hôn giả và Tòa án không thể công nhận thuận tình ly hôn cho họ. Có thể nói, trong thuận tình ly hôn thì sự tự nguyện thực sự của vợ và chồng là điều kiện để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

2.2. Căn cứ ly hôn theo yêu cầu một bên

Đối với trường hợp này, Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

  1. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
  2. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Ở Luật HN&GĐ 2014 không có điều khoản riêng về căn cứ ly hôn (Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cụ thể tại Điều 89). Cho đến nay, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng chưa có văn bản giải thích chính thức về nội dung căn cứ ly hôn để áp dụng cho các trường hợp ly hôn; đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau, không thống nhất về nội dung căn cứ ly hôn được áp dụng trong các trường hợp ly hôn.

Vậy, theo Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 có thể nhận định rằng có ba căn cứ ly hôn được áp dụng cho các trường hợp ly hôn khi một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn đề Toà án giải quyết cho ly hôn như sau:

Thứ nhất, đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Đánh giá tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn hôn nhân không đạt được phải trên cơ sở nhận định rằng: Vợ chồng không còn yêu thương nhau; những mâu thuẫn giữa vợ, chồng sâu sắc đến mức không thể hòa giải được; quan hệ vợ chồng rạn nứt đến nỗi không thể hàn gắn được; việc vợ chồng tiếp tục chung sống là bất hạnh lớn của vợ chồng, ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của những thành viên trong gia đình, đặc biệt là tới việc chăm sóc, giáo dục con cái; sự tồn tại quan hệ hôn nhân đó không thể xây dựng được một gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Để có thể đưa ra nhận định trên thì cần phải dựa vào các biểu hiện thực chất trong quan hệ vợ và chồng thông qua thái độ và hành vi của vợ, chồng. Nếu vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiên trọng quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng dẫn đến quan hệ vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Thứ hai, đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về căn cứ cho ly hôn có đề cập tới trường hợp yêu cầu ly hôn khi một trong hai người mất tích như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”.

XEM THÊM : Đề Tài Làm Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Luật

Trường hợp này Toà án chỉ giải quyết cho ly hôn có bằng chứng chứng minh được chồng hoặc vợ đã biệt tích từ hai năm trở lên kể từ ngày có tin tức cuối cùng về chồng (vợ), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.

Như vậy, khi một người bị Toà án tuyên bố là mất tích thì cũng đồng nghĩa với việc thực tế cuộc sống chung của vợ chồng đã bị gián đoạn, nghĩa là bên bị tuyên bố mất tích không thể thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối với vợ hoặc chồng của mình, không cùng gánh vác xây dựng, chăm lo cho đời sống chung trong liên tục hai năm trở lên. Quan hệ vợ chồng trong trường hợp này chỉ còn mang tính hình thức. Giải quyết ly hôn trong trường hợp này được đặt ra nhằm bảo vệ cho người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích, bảo đảm những lợi ích về nhân thân và tài sản của họ, đồng thời cũng củng cố mối quan hệ gia đình. Quyết định tuyên bố mất tích của Toà án không đương nhiên làm chấm dứt hôn nhân. Quyết định này là căn cứ để giải quyết ly hôn khi có yêu cầu, đây là điểm khác biệt cơ bản để phân biệt với trường hợp một bên vợ, chồng chết. Căn cứ để Toà án giải quyết ly hôn đó là có yêu cầu của vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích, nếu khồn có yêu cầu ly hôn của đương sự thì quan hệ hôn nhân vẫn tiếp tục tồn tại.

Thứ ba, trường hợp yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình,  đồng thời là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. Do phạm vi của hành vi bạo lực gia đình được quy định trong luật rất rộng, vì vậy cần làm rõ tránh sự nhầm lẫn. Theo quy định này thì có thể xin ly hôn thay cho người thân và luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó bạo lực gia đình là một lý do, căn cứ để người chồng hoặc người vợ có quyền yêu cầu Toà án cho ly hôn. Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích của vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn chỉ trong trường hợp bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến việc không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Có nghĩa là chồng, vợ có lỗi nghiêm trọng đối với người bị tâm thần hoặc mắc các bệnh khác dẫn đến không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì Tòa án mới chấp nhận yêu cầu ly hôn.

Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin ly hôn thay cho người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do trước đây chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để ly hôn.

Bài viết trên đây là toàn bộ Cơ Sở Lý Luận Về Căn Cứ Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân mà mình đã triển khai và đồng thời liệt kê đến cho các bạn sinh viên cùng xem và tham khảo. Nếu như nguồn tài liệu trên đây mình đã chia sẻ chưa đủ để làm hài lòng bạn thì ngay bây giờ đây hãy tìm đến dịch vụ nhận viết thuê luận văn thạc sĩ của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá bài làm luận văn và hỗ trợ từ A đến Z nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*