Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự
Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự

✅✅✅ Tải Free!!! Tải Ngay !!! Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự Bạn đang là sinh viên học chuyên ngành luật và bạn cần thêm nguồn tài liệu để có thể tiến hành làm bài khoá luận ? Bài viết sau đây chúng tôi sẽ gợi ý cho các bạn nguồn tài liệu vô cùng xuất sắc mà các bạn không nên bỏ qua. Nội dung đã được mình tiến hành triển khai như là khái quát chung về vụ án dân sự,khái quát chung về điều kiện giải quyết vụ án dân sự và cuối cùng là những nguyên tắc cơ bản của điều kiệ giải quyết vụ án dân sự.. Hy vọng ít nhiều nguồn tài liệu mình sắp chia sẻ sau đây sẽ cung cấp được cho các bạn nhiều kinh nghiệm hữu ích hơn để có thể rút ngắn quá trình làm bài khoá luận. 

Chưa dừng lại ở việc chia sẻ nguồn tài liệu này, ngoài ra hiện nay bên mình có nhận viết thuê khoá luận ngành luật với rất nhiều đề tài phong phú, có phải bạn đang lo lắng về vấn đề phải hoàn thành bài khoá luận hoàn chỉnh, bạn chưa có nhiều thời gian để thực hiện hoặc thậm chí bạn vẫn chưa chọn được đề tài. Đừng quá lo lắng, mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết trong tích tắc chỉ cần bạn nhanh chóng tìm đến ngay dịch vụ viết thuê chuyên đề khoá luận của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ từ khi bắt đầu cho đến lúc hoàn thành nhé.

1. Khái quát chung về vụ án dân sự

1.1 Khái niệm

Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ tồn tại 3 khái niệm vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động. Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với cách thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phần, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn. Vụ án dân sự bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết…

Theo quy định của BLTTDS thì vụ án dân sự được phân biệt với việc dân sự. Dấu hiệu phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự là trong vụ án có yếu tố tranh chấp còn việc thì không có tranh chấp. Vụ án được hiểu là các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền, Toà án thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết, xét xử bằng một quyết định hoặc bản án.

XEM THÊM : Khóa Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: “Vụ là việc, sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết”[1]; “Dân sự (civil administration) thuộc việc của dân để phân biệt với việc của quan”[2]. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Án là vụ việc phải đưa ra xét xử ở tòa”[3], “Dân sự là việc liên quan đến dân nói chung”[4]. Những việc liên quan đến dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Trong các mối quan hệ này có mâu thuẫn, rắc rối, không thống nhất được ý kiến với nhau về quyền và lợi ích được gọi là xảy ra tranh chấp. Tranh chấp là sự giành giật, mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về quyền và lợi ích giữa các chủ thể. Tranh chấp – hiểu một cách khái quát – là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp trong các lĩnh vực này đều là vụ án dân sự. Các tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của BLTTDS gồm trên 40 loại tranh chấp cụ thể trong các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình chỉ trở thành vụ án dân sự khi các đương sự không thể tự giải quyết được bằng các hình thức thương lượng hoặc thông qua trung gian hòa giải và do đó đề nghị Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Như vậy ta có thể hiểu theo nghĩa hẹp thì Vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ pháp luật dân sự được Tòa án thụ lý, giải quyết theo đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước. Theo nghĩa rộng, “Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được đưa ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.”

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự những người tham gia tố tụng trong vụ án dân sự gồm có người khởi kiện là nguyên đơn, người bị kiện là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quan hệ tranh chấp, ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.

Vụ án dân sự sẽ được Tòa án giải quyết, xét xử theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và kết thúc bằng một bản án, quyết định của Tòa án. Quyết định, bản án này được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Tóm lại, vụ án dân sự là gì????

1.2. Đặc điểm

Vụ án dân sự có những đặc điểm sau đây:

Một là, nguồn gốc của vụ án dân sự là các tranh chấp phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự; hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động.

Yếu tố tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu để xác định có là vụ án dân sự hay không và đây cũng chính là yếu tố để phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự.

Hai là, chỉ là vụ án dân sự khi có đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu được giải quyết. Nghĩa là, khi các bên phát sinh tranh chấp sau đó gửi đơn lên Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ xem xét đơn kiện đó và chỉ khi Tòa án thụ lý thì tranh chấp đó mới được coi là một vụ án dân sự.

Ba là, vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nghĩa là vụ án này phải thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bởi vì có một số vụ án trước khi đưa ra Tòa án giải quyết thì phải qua cấp giải quyết trung gian, nếu không giải quyết được thì Tòa án mới giải quyết nếu có yêu cầu của đương sự.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự bốn là, được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, được quyết định bằng một bản án và bắt buộc các bên phải thực hiện. Khi vụ án đã được Tòa án thụ lý thì có nghĩa là việc giải quyết tranh chấp đó phải tuân theo trình tự giải quyết mà pháp luật đã quy định và bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo bản án, quyết định đó.

Năm là, các bên trong vụ án dân sự được gọi là các đương sự. Đương sự là cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Chỉ khi các đương sự nộp đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí (nếu không thuộc diện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án) và Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì như vậy, mới phát sinh nghĩa vụ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án. Do thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự có những khác nhau cơ bản nên khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định ngay đó là vụ án dân sự hay việc dân sự để thụ lý giải quyết đúng thủ tục.

XEM THÊM : 63 Đề Tài Luật Dân Sự Viết Chuyên Đề Tốt Nghiệp 

1.3. Phân loại

Dựa trên các quan hệ xã hội làm phát sinh tranh chấp được phép khởi kiện ra tòa án, vụ án dân sự được chia thành các loại sau:

– Vụ án về tranh chấp dân sự: là vụ án xảy ra giữa các cá nhân, tổ chức có sự mâu thuẫn về nhân thân hoặc tài sản.

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, những tranh chấp dân sự sau đây sẽ được coi là vu án dân sự:

+ Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

Đây là loại việc được quy định kế thừa từ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011, tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam là tranh chấp phát sinh giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc với người không có quốc tịch về việc xác định quốc tịch Việt Nam do chính một trong các bên hoặc một chủ thể nào đó có liên quan với các bên, đối với trường hợp không có tranh chấp giữa các bên về quốc tịch Việt Nam mà các bên đều thống nhất đề nghị cơ quan nhà nước xem xét thay đổi quốc tịch thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc cơ quan nhà nước khác.

+ Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự quy định này là phù hợp, thống nhất với những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản. Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản bao gồm tranh chấp xác định ai là chủ sở hữu tài sản, tranh chấp về quyền chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản, tài sản có thể là bất động sản hoặc động sản, bất động sản hoặc động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai, tranh chấp về các quyền khác đối với tài sản bao gồm: quyền đối với bất động sản liền kể, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.

+ Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”[5]. Như vậy, giao dịch dân sự đã bao hàm tranh chấp về hợp đồng dân sự tuy nhiên khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 lại phân biệt tranh chấp về giao dịch dân sự và về hợp đồng dân sự.

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự tuy nhiên cần phân biệt hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật dân sự là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp đồng dân sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại…Thuật ngữ hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự là hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp (chủ thể hợp đồng là cá nhân, tổ chức không đăng ký kinh doanh, mục đích giao kết không vì lợi nhuận) nhằm phân biệt với hợp đồng kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh ký kết với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tranh chấp về hợp đồng dân sự rất đa dạng: Hợp đồng vay tiền, mua bán hàng hóa, bảo lãnh, cầm cố, thế chấp…Việc xác định chính xác các loại hợp đồng này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng pháp luật nội dung áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp đó.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự
Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự

+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là những tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Tranh chấp về quyền tác giả có thể là tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức nhằm xác định tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm…Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình…tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân có quyền liên quan đến tác giả như tranh chấp giữa những người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng ghi âm, ghi hình, tổ chức phát song và những người khác có hành vi vi phạm quyền của họ, tranh chấp giữa tác giả, đồng tác giả với những người có liên quan nhưng không phải là tác giả.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ[6]. Tranh chấp về chuyển giao công nghệ có thể là tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc tranh chấp quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng.

+ Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tranh chấp về thừa kế di sản của người chết để lại bao gồm tranh chấp về quyền thừa kế như quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác đối với di sản thừa kế, tranh chấp thừa kế theo di chúc hay pháp luật đối với di sản thừa kế, tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất; tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản từ di sản thừa kế…

Ngoài ra là một số tranh chấp khác như tranh chấp về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai, tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…

– Vụ án về hôn nhân và gia đình: là vụ án xảy ra giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn.

Các tranh chấp về hôn nhân gia đình được coi là vụ án dân sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

– Vụ án về kinh doanh, thương mại: là vụ án xảy ra giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương nhân với chủ thể khác (không phải là thương nhân), giữa thương nhân với bên thứ ba trong quan hệ kinh doanh, thương mại.

Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được coi là vụ án dân sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

– Vụ án về lao động: là vụ án xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.

Các tranh chấp về lao động được coi là vụ án dân sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tác giả có thể cho ví vụ để phân tích? 1 vụ tranh chấp về dân sự, hôn nhân,…

2.Khái quát chung về điều kiện giải quyết vụ án dân sự

2.1. Khái niệm về điều kiện giải quyết vụ án dân sự

Điều kiện giải quyết vụ án dân sự là điều kiện do pháp luật tố tụng dân sự quy định để chủ thể yêu cầu giải quyết vụ án dân sự thực hiện việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, bao gồm các điều kiện: Chủ thể khởi kiện phải có tư cách pháp lý và năng lực chủ thể, vụ án dân sự chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và vụ án dân sự phải đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Chưa trả lời được “Điều kiện giải quyết vụ án dân sự là gì?” tác giả cần bổ sung nội dung.

2.2. Đặc điểm của điêù kiện giải quyết vụ án dân sự

Chủ thể khởi kiện phải có tư cách pháp lý và năng lực chủ thể.

Trong pháp luật dân sự, mối quan hệ của các chủ thể luôn có sự ngang bằng về địa vị pháp lý. Khi một chủ thể xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác thì chủ thể bị xâm phạm được trao các quyền năng để bảo vệ quyền lợi của mình. Theo đó, các chủ thể được trao cho quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các thỏa thuận dân sự của mình. Thông thường, khi một chủ thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp họ đã có sẵn những quyền tố tụng để bảo vệ mình và để trở thành chủ thể khởi kiện thì họ phải đáp ứng các tiêu chí như có tư cách pháp lý và có năng lực chủ thể.

Để xác định tư cách pháp lý của chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể đó phải có quyền và lợi ích cần được bảo vệ. Nói cách khác, nếu không có quyền và lợi ích thì không có tư cách kiện. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ đối với những trường hợp không có quyền và lợi ích hợp pháp nhưng chủ thể vẫn có tư cách khởi kiện. Đó là trường hợp người đại diện hợp pháp khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên, người bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Khi đó, những người này tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo pháp luật và trường hợp cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật khởi kiện vì mục đích bảo vệ cho lợi ích của người khác trong một số quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình, lao động nhất định. Bên cạnh việc khởi kiện để bảo vệ lợi ích trực tiếp của mình thì có những chủ thể được nhà nước trao quyền để bảo vệ lợi ích dân sự của Nhà nước hoặc lợi ích công cộng khi có hành trái pháp luật xâm phạm. Khi đó, trong phạm vi lĩnh vực mình phụ trách, các cơ quan, tổ chức này sẽ khởi kiện với tư cách là nguyên đơn để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.

Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự bên cạnh yếu tố tư cách pháp lý, thì chủ thể có quyền khởi kiện phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là một phạm trù có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hành động, ý chí và lý trí, là khả năng của đương sự trong việc tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng.

Vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án: Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành… Về lý luận thì một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa. Mặc dù được coi là một trong những yếu tố làm mất quyền khởi kiện của đương sự hay còn được gọi là hiệu lực gián đoạn, nhưng cách quy định này hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm sự ổn định của các quan hệ xã hội, tránh tình trạng chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và quyết định.

Tuy nhiên, nếu quy định trên là một quy định cứng nhắc, thiếu tính mềm dẻo thì cũng không đạt được mục đích bảo đảm cho đương sự được tiếp cận Tòa án một cách thiết thực và có hiệu quả nhất. Do đó, pháp luật cũng cần có những quy định về các trường hợp ngoại lệ mà người có quyền lợi bị vi phạm hay có tranh chấp vẫn có quyền khởi kiện lại.

Giải quyết vụ án phải đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Trong tố tụng dân sự, thẩm quyền theo loại việc của Tòa án là khả năng của Tòa án xét xử, giải quyết những vụ việc dân sự nào. Việc quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhằm phân định thẩm quyền của Tòa án, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết hiệu quả các vụ án, bảo đảm cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước. Đồng thời, cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện. Thẩm quyền theo loại việc của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Nếu nội dung tranh chấp không thuộc thẩm quyền theo loại việc được pháp luật quy định thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết. Như vậy, chỉ những yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền theo loại việc về dân sự của Tòa án mới được đáp ứng điều kiện giải quyết vụ án dân sự.

Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Việc pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện vừa có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân không bị xâm phạm vừa bảo đảm giải quyết vụ án dân sự được thuận lợi. Vì vậy, việc khởi kiện vụ án phải được tiến hành trong thời hiệu khởi kiện. Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án.

2.3. Ý nghĩa của điều kiện giải quyết vụ án dân sự

2.3.1. Phương diện chính trị

Sự ghi nhận điều kiện giải quyết vụ án dân sự góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân, đáp ứng các đòi hỏi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Có thể nói nhà nước pháp quyền là một yếu tố tất yếu để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Khởi kiện VADS chính là cơ chế mà Nhà nước trao quyền cho các bên trong quan hệ dân sự có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc tranh chấp, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích của các bên khi xác lập giao dịch dân sự, từ đó có thể kịp thời bảo vệ được các quyền lợi của con người cũng như góp phần duy trì sự ổn định, cân bằng của xã hội. Thông qua việc xem xét điều kiện giải quyết vụ án dân sự Tòa án sẽ kịp thời bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, vào chế độ, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

2.3.2. Phương diện kinh tế – xã hội

Các quy định về điều kiện giải quyết vụ án dân sự và giải quyết vụ án dân sự góp phần bảo vệ các lợi ích hợp pháp trong quan hệ pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Dưới góc nhìn của các nhà đầu tư, nếu một hệ thống pháp luật quốc gia không đủ để bảo đảm quyền lợi cho họ khi tranh chấp xảy ra thì việc từ bỏ cơ hội đầu tư là đương nhiên. Nói cách khác, từ góc độ kinh tế học, trong các tiêu chí đánh giá tiềm năng của thị trường trước khi đầu tư vào Việt Nam, tiêu chí về chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí quan trọng. Bởi vậy, chúng ta cần phải tiếp cận pháp luật đặt trong bối cảnh xã hội đang phát triển với những cạnh tranh và thích ứng bất tận đã “làm cho pháp luật dường như không chỉ còn là thượng tầng kiến trúc mà đã trở thành một hạ tầng quan trọng giúp xã hội phát triển” và “việc quả quyết rằng pháp luật chỉ chịu ảnh hưởng bởi kinh tế là một việc sai lầm”. Thời đại của sự hội nhập đã đến, chất lượng pháp luật là một trong những cơ sở góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Một hệ thống pháp luật với các quy định bảo giải quyết vụ án dân sự cũng như các quyền tố tụng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án sẽ góp phần trong việc mở rộng cơ hội lựa chọn đầu tư kinh doanh của thương nhân vào Việt Nam. Các quy định về giải quyết vụ án dân sự rõ ràng, minh bạch với những cơ chế thuận lợi tạo điều kiện để các nhà đầu tư, cá nhân, tổ chức kinh doanh có thể nhanh chóng tìm đến “công lý” khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp.

2.3.3. Phương diện pháp lý

Điều kiện giải quyết vụ án dân sự là căn cứ pháp lý để đương sự có đầy đủ phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trên thực tế, có rất nhiều các phương thức khác nhau để giải quyết các tranh chấp dân sự như tự bảo vệ, yêu cầu Tòa án bảo vệ, thương lượng, hòa giải, trọng tài. Mỗi phương thức đều có những ưu và nhược điểm nhất định, tuy nhiên, phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi íc hợp pháp là “công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích”. Đây là bước khởi đầu quan trọng để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là cơ sở cho Tòa án thực thi được quyền bảo vệ công lý, bảo vệ sự ổn định của các quan hệ xã hội theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND, đồng thời còn tạo cơ chế chủ động tự bảo vệ của đương sự khi quyền và lợi ích của mình có nguy cơ bị xâm phạm.

Đây là cơ sở để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng, giải quyết vụ án dân sự. Khi đã nhận giải quyết Tòa án sẽ phải thực hiện đúng chức năng, căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết dứt điểm các tranh chấp. Việc giải quyết vụ án dân sự sẽ góp phần giảm bớt mâu thuận trong xã hội, tạo niềm tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật. Khi đáp ứng điều kiện giải quyết vụ án dân sự, Tòa án sẽ tiến hành các bước tiếp theo trong quá trình tố tụng để đảm bảo vụ án được giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

3.Những nguyên tắc cơ bản của điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Những nguyên tắc cơ bản của điều kiện khởi kiện vụ án dân sự là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo mang tính bắt buộc chung, thể hiện tập trung nhất quan điểm chính trị, pháp lý và cách xử sự giữa các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất, quyết định nội dung, quy trình giải quyết vụ án dân sự. Việc quy định giải quyết vụ án dân sự phải được xây dựng dựa trên cơ sở phù hợp các quyền dân sự của công dân.

Dựa trên cơ sở Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người về dân sự, việc quy định khởi kiện vụ án dân sự trước hết dựa trên cơ sở Nhà nước ghi nhận và đảm bảo các quyền con người về dân sự. Quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các Công ước quốc tế khác. Ghi nhận về quyền con người, Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 14 như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Ngoài việc ghi nhận thì việc đảm bảo thực hiện quyền trên còn mang ý nghĩa quan trọng hơn. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”[7]. Trên cơ sở đó pháp luật Tố tụng dân sự cụ thể hóa cơ chế bảo vệ các quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án.

Hoạt động khởi kiện vụ án dân sự được xây dựng dựa trên nguyên tắc cơ bản của Tố tụng dân sự là quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự các chủ thể độc lập với nhau về tổ chức, tài sản, bình đẳng trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ cũng như chịu trách nhiệm dân sự[8]. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể có toàn quyền lựa chọ chủ thể khác tham gia cùng với mình cũng như quyền và nghĩa vụ phải thực hiện trong giao dịch dân sự do đó khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, các chủ thể có toàn quyền quyết định việc có yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp hay không và ai sẽ là người khởi kiện. Việc xây dựng quy định về khởi kiện và thụ lý VADS dựa trên nguyên tắc quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự còn được hiểu là phải ghi nhận, tôn trọng quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trước khi Tòa án thụ lý.

Xuất phát từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự, các chủ thể trong quan hệ dân sự độc lập với nhau về tổ chức, tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý nghĩa là họ bình đẳng với nhau về việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm dân sự. Vì vậy, việc ghi nhận quyền khởi kiện dựa trên cơ sở bảo đảm quyền bình đẳng của các đương sự trong việc bảo vệ quyền hay lợi ích dân sự hợp pháp của mình.

Ngoài ra, xuất phát từ nguyên tắc tuân thủ pháp luật[9]. Đây là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, có tác dụng đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước minh bạch, đảm bảo công bằng xã hội. Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động dù của bất kỳ ai, cơ quan, tổ chức nào đều tuân theo pháp luật. Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không tuân theo pháp luật, vi phạm pháp luật thì phải xử lý. Do đó, việc quy định khởi kiện vụ án dân sự là bước đầu tiên trong giai đoạn tố tụng là cần thiết, làm tiền đề cho những bước về sau của tố tụng dân sự trong việc xử lý các vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm tuân thủ pháp luật.

Ngoài ra, đối với vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, các nguyên tắc được quốc gia thừa nhận bao gồm: Tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia; Tôn trọng quyền miễn trừ Tư pháp của Nhà nước nước ngoài và những người được hưởng quyền miễn trừ Tư pháp; Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng; Nguyên tắc có đi có lại cùng có lợi; Nguyên tắc luật Toà án.[10]

 Bài viết tren đây là toàn bộ Cơ Sở Lý Luận Pháp Luật Về Điều Kiện Giải Quyết Vụ Án Dân Sự mà mình đã triển khai và đồng thời gửi gấm đến cho các bạn xem và theo dõi. Nếu như nguồn tài liệu mình đã triển khai trên đây chưa đủ để làm hài lòng bạn thì đừng quên rằng hiện nay bên mình có nhận viết thuê chuyên đề khoá luận luật với rất nhiều đề tài phổ biến. Tất cả mọi vấn đề bạn đang gặp phải hãy để dịch vụ viết thuê chuyên đề khoá luận luật qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

 

[1] Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Thanh niên, tr. 1279.

[2] Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Thanh niên, tr. 36.

[3] Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, tr. 34.

[4] Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, tr. 520.

[5] Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Khoản 8 Điều 3 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006.

[7] Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.

[8] Trần Thị Lượt (2014), “Khởi kiện vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 16.

[9] Phan Thanh Dương (2018), “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 20.

[10] Lê Thị Thúy Hằng (2017), “Giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, tr. 15.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*