Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai, Có Đáp Án

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai
Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai

Có phải bạn đang tìm kiếm Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai? Chắc hẳn các bạn sinh viên ngành luật đang lo lắng và tìm kiếm bài viết sau đây mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn đề thi hết học phần môn luật đất đai và kèm theo đó là có cả đáp án cho các bạn cùng xem và tham khảo nhé. Chưa dừng lại ở đó, ngoài ra hiện tại bên mình có nhận viết đề thi hết học phần môn luật hoàn toàn hữu ích. Nếu các bạn thật sự cần viết thuê một bài tiểu luận thì ngay bây giờ đây liên hệ ngay đến dịch vụ viết thuê tiểu luận qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá và hỗ trợ chọn ngay đề tài phù hợp nhé.

Câu 1: (5 điểm): Hòa giải tranh chấp đất đai là gì? Mục đích ý nghĩa của công tác hòa giải tranh chấp đất đai? Hệ quả pháp lý của công tác hòa giải tranh chấp đất đai như thế nào?

Trả lời:

  • Khái niệm:

Với sự phát triển của xã hội ngày nay, rất nhiều các mối quan hệ xuất hiện, kéo theo nó là những mâu thuẫn lần lượt ra đời, dẫn đến những tranh chấp giữa các bên trong các quan hệ xã hội. Hiện nay theo Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định, có nhiều cách thức khác nhau để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên hòa giải là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp, việc áp dụng biện pháp hòa giải vào giải quyết tranh chấp giúp các bên tranh chấp tiết kiệm được nhiều chi phí khi khởi kiện ra Tòa án và thời gian giải quyết cũng nhanh hơn. Trên thực tế, biện pháp hòa giải là việc bên thứ ba xuất hiện có vai trò thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa. Đây là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, hiệu quả giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một phương pháp thống nhất để tháo gỡ mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ pháp luật, nhất là trong lĩnh vực đất đai.

XEM THÊM :Dịch Vụ Viết Thuê Tiểu Luận

Tranh chấp đất đai hiện nay xảy ra khá phổ biến và rất phức tạp, một trong những biện pháp giải quyết tối ưu nhất góp phần hạn chế các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án đó chính là hoà giải. Hoà giải trong tranh chấp đất đai là một trong những phương thức được sử dụng khá phổ biến hiện nay gồm biện pháp hòa giải tự nguyện (Nhà nước khuyến khích) và hòa giải bắt buộc tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Như vậy, có thể hiểu hòa giải nghĩa là tự chấm dứt các tranh chấp hay xích mích giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hay qua sự trung gian bởi một người khác. Là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết vấn đề của mình một cách ổn thỏa. Hòa giải thường được tiến hành sau khi các bên tranh chấp thương lượng không đạt hiệu quả. Hòa giải thành công thì sẽ giữ được đoàn kết giữa các bên cũng như tránh được việc kiện tụng kéo dài và tốn kém.

Qua những căn cứ về hòa giải, có thể đưa ra khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai như sau: Hòa giải tranh chấp đất đai là sự tác động nhằm chấm dứt các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên với nhau trong quá trình sử dụng đất bằng biện pháp thương lượng hoặc qua sự trung gian bởi chủ thể thứ ba.

  • Mục đích, ý nghĩa của công tác hòa giải tranh chấp đất đai:

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai mục đích của công tác hòa giải tranh chấp đất đai là giúp cho các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng, bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho các chủ thể khi có quyền sử dụng đất hợp pháp. Trên cơ sở đó góp phần bảo vệ và duy trì sự ổn định trong trật tự chung của xã hội, đồng thời thể hiện được vai trò quản lý của nhà nước về đất đai. Hòa giải tranh chấp đất đai là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng mối quan hệ mới trên cơ sở hoà bình, đồng thời là biện pháp cần thiết đảm bảo giải quyết kịp thời nguồn gốc của sự mâu thuẫn, xích mích, các tranh chấp trong gia đình, cộng đồng dân cư… về đất đai, giúp cho các bên có cách nhìn nhận, giải quyết hợp tình hợp lý, từ đó đưa ra một giải pháp thống nhất để tháo gỡ những vướng mắc, mâu thuẫn bất đồng về tranh chấp đất đai trên cơ sở tự thỏa thuận. Chính vì vậy, hòa giải tranh chấp đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội, góp phần tạo ra mối quan hệ mới tốt đẹp hơn giữa các bên tranh chấp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý xã hội. Ngoài ra, thông qua hoà giải còn bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn. Với những ý nghĩa đó, hòa giải là một phương thức để thực hiện dân chủ, thông qua hòa giải, vai trò tự quản của người dân được đề cao, từ đó góp phần cũng cố, tăng cường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Mặt khác, trong trường hợp các bên tiến hành hòa giải thành công sẽ lập tức chấm dứt mâu thuẫn, trong trường hợp này tranh chấp đất đai cũng kết thúc. Tạo được sự thống nhất giữa các bên và hạn chế được sự tốn kém phiền hà, cũng như giảm bớt được công việc cho Tòa án, duy trì được các mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ, phù hợp với đạo lý của dân tộc tương thân, tương ái. Hòa giải giúp cho các đương sự hiểu biết và thông cảm cho nhau hơn, giảm bớt các mâu thuẫn, nhằm ngăn chặn tội phạm từ bất đồng tranh chấp đất đai gây ra. Vì vậy, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định hòa giải là thủ tục đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai.

Bên cạnh đó, hòa giải còn mang ý nghĩa đối với trật tự xã hội, trong trường hợp hòa giải tranh chấp không đạt được cũng giúp cho các bên tranh chấp hiểu rõ hơn các quyền và nghĩa vụ của mình, giảm bớt được những mâu thuẫn phát sinh không đáng có. Từ đó, xây dựng các quan hệ xã hội không phải bằng mệnh lệnh mà xuất phát từ sự thuyết phục và cảm thông.

Như vậy với tầm quan trọng đó càng cũng cố thêm ý nghĩa của công tác hoà giải, góp phần giải quyết kịp thời nguồn gốc của các mâu thuẫn, xích mích, các tranh chấp trong gia đình, cộng đồng dân cư; từ đó khôi phục, duy trì, củng cố tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Hòa giải còn góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân và duy trì và phát huy đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc.

XEM THÊM : Đề Thi Tiểu Luận Môn Luật Đất Đai Đại Học Mở

  • Hệ quả pháp lý của công tác hòa giải tranh chấp đất đai:

Trên thực tiễn khi tranh chấp đất đai xảy ra yêu cầu tất yếu đặt ra là phải giải quyết tranh chấp đó. Việc giải quyết những tranh chấp đó nhằm hướng tới giải quyết các xung đột, mâu thuẫn và tìm ra biện pháp tối ưu nhất nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan, giúp các quan hệ đất đai từ trạng thái mâu thuẫn sang trạng thái đồng thuận hoặc buộc đồng thuận. Chính vì vậy, hệ quả của công tác hoà giải tranh chấp đất đai hướng tới chính là nhằm đạt được kết quả cuối cùng bằng cách thuyết phục và thỏa thuận được hình thành giữa các bên tranh chấp với sự tham gia của chủ thể trung gian.

Thực tế cuộc sống của chúng ta xảy ra rất nhiều các vụ tranh chấp đất đai, hệ quả phát sinh đặt ra buộc các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện quá trình hoà giải. Chính vì vậy, hệ quả phát sinh hoà giải từ các tranh chấp với hai trường hợp thường áp dụng:

Thứ nhất, hòa giải trong tố tụng: Hòa giải trong tố tụng là hình thức được áp dụng tại Tòa án nhân dân, là hệ quả pháp lý xảy ra khi có đơn khởi kiện liên quan đến tranh chấp đất đai dựa trên yêu cầu của các chủ thể có quyền lợi về đất đai bị ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định rõ với tư cách là cơ quan có nhiệm vụ xét xử, Toà án nhân dân có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đưa ra thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định của pháp luật. Như vậy có thể thấy, hoà giải là hệ quả tất yếu, là một chế định bắt buộc trong thủ tục tố tụng nhằm giải quyết khi xảy ra tranh chấp giữa các bên, nhằm tìm ra phương án, cách giải quyết hướng đến thỏa thuận lại các vấn đề phát sinh trong tranh chấp và đi đến quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp bằng ôn hòa (nếu hòa giải thành) hoặc quyết định giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tư pháp là xét xử (nếu hòa giải không thành).

Thứ hai, hòa giải ngoài tố tụng:

– Hòa giải tiền tố tụng tại TAND: Đây là trường hợp tiến hành trước khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2014. Tuy nhiên, hình thức này vẫn chưa được áp dụng phổ biến mà chỉ mới thí điểm ở một số địa phương.

– Hòa giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường: Là biện pháp tiến hành tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi có đất đang bị tranh chấp. Đây cũng là hình thức được áp dụng khi chưa xác định được “ai là người có quyền sử dụng đất” và được áp dụng theo quy định của Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

– Hòa giải cơ sở: Đây là phương thức quan trọng nhằm hướng tới kết quả cuối cùng bằng các thỏa thuận chung trên cơ sở tự do ý chí của các bên liên quan gắn với thôn, làng, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác. Đây là phương thức được áp dụng chủ yếu với các tranh chấp đơn giản, tập trung các tranh chấp mang tính cục bộ địa phương và được hỗ trợ bởi một bên thứ ba làm chức năng trung gian. Hiện nay, phương thức hòa giải cơ sở được quy định tại Luật Hòa giải cơ sở năm 2013.

Như vậy, trong thực tiễn ta có thể thấy từ các hệ quả pháp lý xuất hiện khi có tranh chấp đất đai xảy ra, hoà giải chính là phương thức hữu hiệu nhằm giải quyết những tranh chấp đó, hướng tới xây dựng một trật tự mới giữa các bên tranh chấp, tiến tới xây dựng các mối quan hệ truyền thống trong cộng đồng dân cư dưới tác động của phong tục tập quán, hương ước và lệ ước địa phương.

Câu 2: (5 điểm): Thu hồi đất là gì? Phân tích các quy định về điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất?

Trả lời:

  • Khái niệm thu hồi đất

Trong thực tiễn pháp luật Việt Nam đã từng đề cập đến thu hồi đất, tuy nhiên chưa đưa ra định nghĩa cụ thể thu hồi đất là gì và cũng không phân tích, làm rõ những yếu tố dẫn đến thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993. Năm 2003 khi Luật Đất đai được sửa đổi, thuật ngữ thu hồi đất đã được giải thích tại Khoản 5 Điều 4 quy định, thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lí theo quy định của Luật đất đai 2003. Mặc dù đã có những điều chỉnh và mở rộng nội hàm của khái niệm thu hồi đất, tuy nhiên những cách giải thích trên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và chưa thực sự chính xác về nội hàm của nó, dẫn đến cách hiểu rằng người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, trong khi theo quy định của pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, đây là những chủ thể phổ biến bị thu hồi đất.

XEM THÊM : Đề Tài Tiểu Luận Luật Đất Đai Luật Môi Trường

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai
Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai năm 2013 Hiến pháp ra đời đã khẳng định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”. Như vậy, việc thu hồi đất và bồi thường của Nhà nước đã được ghi nhận trong Hiến pháp là đạo luật gốc. Trên cơ sở Hiến pháp, Luật đất đai 2013 ra đời đã quy định tại Khoản 11 Điều 3, qua đó khẳng định Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Từ quy định trên có thể hiểu thu hồi đất đai là trường hợp nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất từ cá nhân, hộ gia đình, tổ chức đã được trao quyền sử dụng đất trước đó. Chính vì vậy, không phải trường hợp nào nhà nước cũng có thể tự ý ra quyết định thu hồi, mà Nhà nước chỉ được thu hồi đất trong những trường hợp do pháp luật quy định.

Từ những lý luận trên, có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước đưa ra quyết định hành chính bằng văn bản để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao trước đó cho cá nhân, tổ chức trên cơ sở quản lý của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật đất đai.

  • Phân tích các quy định về điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:

– Quy định của pháp luật về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất

Điều 16 Luật đất đai 2013 quy định rõ về các trường hợp Nhà nước quyết định thu hồi đất sau đây:

+ Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

+ Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.

+ Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:

Trường hợp 1: Điều 75 Luật Đất Đai 2013 quy định điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

+ Đối với hộ gia đình, cá nhân: Trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất sẽ được Nhà nước bồi thường khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, đất đang sử dụng không phải là đất thuê hay trả tiền thuê đất hàng năm;

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai thứ hai, đất có sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc có đủ điều kiện để được cấp sổ đỏ mà chưa được cấp. Trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có sổ đỏ hoặc không đủ điều kiện được cấp sổ đỏ. Trường hợp này không được bồi thường theo quy định trên mà được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp (Theo khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai 2013). Ngoài ra, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có sổ đỏ hoặc có đủ điều kiện được cấp sổ mà chưa được cấp cũng được bồi thường.

+ Đối với cộng đồng dân cư, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo: Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng được bồi thường khi đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có sổ đỏ hoặc đủ điều kiện được cấp sổ đỏ mà chưa được cấp.

+ Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;

Thứ hai, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có sổ đỏ hoặc có đủ điều kiện được cấp sổ đỏ mà chưa được cấp.

+ Đối với tổ chức được Nhà nước giao đất: Tổ chức được Nhà nước giao đất được bồi thường khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;

Thứ hai, nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có sổ đỏ hoặc đủ điều kiện cấp sổ đỏ mà chưa được cấp.

+ Đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao: Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước Việt Nam bồi thường khi được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 mà chưa được cấp.

+ Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai đối với tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bồi thường đất khi đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê;

Thứ hai, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có sổ đỏ hoặc đủ điều kiện cấp sổ đỏ mà chưa được cấp.

Trường hợp 2: Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

+ Điều kiện bồi thường về đất: Điều 77 Luật đất đai 2013 quy định hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất.

+ Phương án bồi thường:

Thứ nhất, diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật đất đai năm 2013 và diện tích đất do được nhận thừa kế. Trường hợp diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực thì việc bồi thường được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Thứ hai, đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai 2013 thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật đất đai 2013.

Trường hợp 3: Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo

Điều 78 Luật đất đai 2013 cũng quy định được bồi thường khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, trong trường hợp tổ chức kinh tế đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai 2013 thì được bồi thường về đất; mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai thứ hai, trong trường hợp cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai 2013 thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.

Trường hợp 4: Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Theo Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP khi Nhà nước thu hồi đất ở thì bồi thường về đất được tính như sau: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì được bồi thường theo 2 phương án sau:

Phương án 1: Bồi thường bằng đất ở hoặc nhà tái định cư, áp dụng khi có 2 điều kiện: thứ nhất, đất ở bị thu hồi hết hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn cấp xã nơi có đất ở thu hồi.

Phương án 2: Bồi thường bằng tiền, khi có 2 điều kiện sau: Thứ nhất, đất ở bị thu hồi hết hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi.

Tuy nhiên, trong trường hợp người được bồi thường không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền. Mức bồi thường bằng tiền sẽ tính theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Trường hợp 5: Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân

+ Điều kiện bồi thường về đất: Đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường.

+ Phương án bồi thường:

Phương án 1: Nhà nước bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, trong trường hợp địa phương còn quỹ đất để bồi thường.

Phương án 2: Nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại đối với đất sử dụng có thời hạn.

Ngoài được bồi thường về đất, người bị thu hồi đất có thể được bồi thường về nhà ở, cây trồng, vật nuôi, chi phí đầu tư còn lại vào đất khi bị thu hồi đất.

Trường hợp 6: Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Điều kiện thứ nhất, khi tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, đất nghĩa trang, nghĩa địa, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai 2013 thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

Điều kiện thứ hai, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất để làm nghĩa trang, nghĩa địa quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật đất đai 2013; doanh nghiệp liên doanh sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất quy định tại Điều 184 của Luật đất đai 2013, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.

Điều kiện thứ ba, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, khi Nhà nước thu hồi đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 Luật đất đai 2013 thì được Nhà nước bồi thường về đất theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

Điều kiện thứ tư, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Điều kiện thứ năm, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất phi nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 luật đất đai 2013 thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.

Qua những quy định của pháp luật về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất và các điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất bản thân thấy rằng trong thực tế thực thi pháp luật về đất đai vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập phát sinh, ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội mà Nhà nước phải điều chỉnh. Đồng thời các quy định được áp dụng trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn do đặc điểm địa bàn dân cư từng vùng miền, sự hiểu biết của người dân về điều kiện được cấp đất do Nhà nước thu hồi đất, làm phát sinh các quan hệ xã hội trong việc người dân yêu cầu Nhà nước bồi thường.

Trên đây toàn bộ là Đề Thi Hết Học Phần Môn Luật Đất Đai và có đáp án mà mình đã liệt kê và đồng thời triển khai đến cho các bạn sinh viên cùng xem và tham khảo. Nếu như nguồn tài liệu trên đây chưa đủ để làm bạn hài lòng thì đừng quên rằng hiện tại bên mình có nhận viết thuê tiểu luận với đa dạng đề tài về luật điểm cao, nếu bạn đang gặp trục trặc về vấn đề phải hoàn thành bài tiểu luận thì ngay bây giờ đây hãy tìm đến dịch vụ viết thuê tiểu luận của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để chúng tôi tư vấn báo giá và hỗ trợ lựa chọn cho các bạn đề tài phù hợp nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*