Khái Niệm Và Các Đặc Điểm Cơ Bản Của Hợp Đồng Lao Động

Khái niệm và các đặc điểm cơ bản
Khái niệm và các đặc điểm cơ bản

Có phải bạn đang cần tìm khái niệm cơ bản của hợp đồng lao động? Bạn đang cần tìm kiếm thêm các đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động? Bài viết các khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động sẽ cho các bạn tham khảo thêm. Hi vọng nguồn tài liệu tham khảo sau đây sẽ cung cấp được cho các bạn thêm kiến thức dồi dào, nội dung mình đã tiến hành triển khai như là các khái niệm về hợp đồng lao động,đặc trưng của hợp đồng lao động

Bạn đang gặp rắc rối về việc làm một bài luận văn? Bạn chưa chọn được đề tài luận văn luật lao động cụ thể? Thì ngay bây giờ đây mọi vấn đề của bạn sẽ được giải quyết trong tích tắc, các bạn hãy liên hệ với nhận viết thuê luận văn của chúng tôi qua zalo 0917193864 để được tư vấn từ A đến Z nhé.

1.Khái niệm về hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là chế định trung tâm và quan trọng nhất của Bộ luật lao động bởi vì nó điều chỉnh quan hệ lao động – mối quan hệ chủ yếu nhất thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ. Hơn nữa trong mối quan hệ với các chế định khác, hợp đồng lao động luôn giữ vai trò làm cơ sở phát sinh các chế định này. Có hợp đồng lao động, có quan hệ lao động mới phát sinh các quan hệ tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi…

Khái Niệm Và Các Đặc Điểm Cơ Bản Của Hợp Đồng Lao Động Hệ thống pháp luật Pháp –Đức trước đây không quy định riêng về HĐLĐ và chỉ coi nó thuần tuý là một loại HĐ dân sự, đúng hơn là một loại hợp đồng dịch vụ dân sự. Hệ thống pháp luật Anh –Mỹ cũng có quan điểm tương tự. Các quy định về QHLĐ theo hợp đồng, giao kèo ở Trung Quốc trước năm 1953, ở Việt Nam sau khi cách mạng tháng 8 thành công cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của Luật Dân sự.

Một cách khái quát, ILO định nghĩa HĐLĐ là “thoả thuận ràng buộc pháp lý giữa một NSDLĐ và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc”. Nhưng khái niệm chỉ xác định một bên quan hệ là công nhân khiến nhóm chủ thể này bị thu hẹp và cũng chưa nếu rõ bản chất HĐLĐ.

Ở Việt Nam, kể từ Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định về “khế ước làm công”, Sắc lệnh sô 77/SL ngày 22/5/1950 có quy định về “công nhân tuyển dụng theo giao kèo” đến nay, chưa lúc nào trong hệ thống PLLĐ không tồn tại những văn bản về HĐLĐ. Nhưng tuỳ từng giai đoạn với điều kiện khác nhau mà khái niệm HĐLĐ có sự khác nhau nhất định. Và đến BLLĐ được Quốc Hội thông qua ngày 23/6/1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007, 2012), thì BLLĐ năm 2012 đưa ra khái niệm về HĐLĐ như sau: “HĐLĐ là sự thoả thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ”. Cũng giống như khái niệm về HĐLĐ trong BLLĐ năm 1994 sửa đổi, khái niệm này cũng chỉ ra được chủ thể và nội dung của HĐLĐ.

Hợp đồng lao động là hình thức biểu hiện của quan hệ lao động. Mọi sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt  một hợp đồng lao động đều kéo theo việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật lao dộng theo hợp đồng.

Khái Niệm Và Các Đặc Điểm Cơ Bản Của Hợp Đồng Lao Động Vậy, khái niệm HĐLĐ có nhiều cách tiếp cận khác nhau, được giải thích bởi sự khác nhau về lý luận khoa học Luật Lao động, truyền thống pháp lý, điều kiện cơ sở kinh tế, xã hội của nền kinh tế… Nhưng những quan điểm này đều có ít nhiều sự tương đồng. Hiện ở nước ta, khái niệm quy định tại Điều 15 BLLĐ 2012 đã có tính khái quát nhưng vẫn chưa phản ánh đầy đủ nội dung quan hệ.

Tóm lại: Hợp đồng lao động và quan hệ lao động có mối quan hệ mật thiết với nhau, thông qua hợp đồng lao động quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập. Bên cạnh đó, nó còn là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này.

Xem Thêm : Báo Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Khái niệm và các đặc điểm cơ bản
Khái niệm và các đặc điểm cơ bản

2. Đặc trưng của hợp đồng lao động

Thứ nhất, hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lý của Người lao động với Người sử dụng lao động.

Đây là đặc trưng tiêu biểu nhất của hợp đồng lao động và chỉ tồn tại ở hợp đồng lao động.

Đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động Khi tham gia quan hệ lao động, người sử dụng lao động có quyền quản lí (tất nhiên, trong khuôn khổ pháp luật), điều hành doanh nghiệp, có quyền sở hữu tài sản của mình. Đây là một quyền riêng do pháp luật qui định cho người sử dụng lao động. Vì vậy, người lao động phải tuân thủ mọi mệnh lệnh, chỉ thị hợp pháp của người sử dụng lao động về việc làm, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, định mức lao động.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, yếu tố bình đẳng không được biểu hiện ra bên ngoài mà thay vào đó là sự không bình đẳng. Lí do là một bên trong quan hệ này có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị còn bên kia có nghĩa vụ thực hiện. Quyền quản lí lao động được xem xét ở hai khía cạnh:

+ Quyền quản lí lao động là dạng quyền năng được sử dụng trong quá trình lao  động. Bên cạnh quyền này, người sử dụng lao động còn có các quyền năng khác như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh…Người sử dụng lao động sẽ sử dụng quyền quản lí lao động dưới nhũng phương thức khác nhau. Ở khía cạnh này, quyền quản lí lao động mang tính chủ quan, vừa là phương tiện giúp người sử dụng lao động duy trì trật tự của qua trình lao động vừa là cơ sở khẳng định thế mạnh so với người lao động.

+ Quyền quản lí lao động là hệ thống các qui định pháp luật về quyền năng của Khái Niệm Và Các Đặc Điểm Cơ Bản Của Hợp Đồng Lao Động 

người sử dụng lao động giúp họ duy trì nề nếp trong quá trình lao động. Quyền này được nhà nước ghi nhận, và ở khía cạnh này, quyền năng này mang tính khách quan.

Cơ sở của quyền quản lí lao động là :

+ Nguyên lí điều khiển khoa học và khoa học về các hệ thống: Mỗi đơn vị sử dụng lao động là một hệ thống, mà mỗi bộ phận đều có chức năng riêng để từ đó phục vụ cho chức năng chung của đơn vị sử dụng lao động đó. Người lao động là một bộ phận cấu thành, nên phải đặt trong thể thống nhất trong mối quan hệ với người sử dụng lao động và những người lao động khác. Giữa các bên chủ thể phải liên hệ mật thiết với nhau, thường thì người sử dụng lao động liên hệ với nhiều người lao động, mà trong mối liên hệ đó, họ mang quyền điều khiển. Sở dĩ có hiện tượng này là vì theo nguyên lí chung, mọi sự phối hợp, hợp tác chung nào trong hoạt động chung hay hoạt động riêng không đồng nhất cũng cần yếu tố quản lí.

+ Quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền quản lí sản nghiệp: Người sử dụng lao động là người trực tiếp đầu tư hoặc đại diện cho người sở hữu đầu tư cho việc thành lập, hoạt động của đơn vị lao động. Người lao động trong quan hệ lao động không phải đầu tư, mua sắm các phương tiện, công cụ sản xuất, điều kiện làm việc mà đều do người sử dụng lao động chịu chi phí đầu tư. Việc này buộc người sử dụng lao động phải thực thi các biện pháp nhằm bảo toàn và phát triển khối tài sản đó.

+ Yêu cầu kiểm soát việc chuyển giao sức lao động của người lao động: Việc

Khái Niệm Và Các Đặc Điểm Cơ Bản Của Hợp Đồng Lao Động tuyển dụng lao động làm phát sinh quan hệ mua bán sức lao động. Đây là hoạt động đầu tư nhân lực, buộc người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp quản lí lao động nhằm kiểm soát việc chuyển giao sức lao động của người lao động.

+Vấn đề duy trì mục tiêu, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh: quá trình lao động gắn liền với các hình thái giá trị, mục tiêu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động là năng suất, chất lượng, hiệu quả. Việc thực hiện nghĩa vụ của người lao động quyết định các mục tiêu đó. Việc hoạt động đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào khả năng lao động, trình độ và ý thức của người lao động. Vì vậy, vấn đề quản lí nhân sự trở thành một yêu cầu tất yếu trong các đơn vị sử dụng lao động. Hệ thống quản lí lao động giúp chủ sử dụng lao động đánh giá mức độ hoàn thành các kế hoạch sản xuất, kinh doanh.

+ Sự qui định của pháp luật: Trong lĩnh vực quản lí lao động, nhà nước đều can thiệp nhất định nhằm tạo trật tự của các sinh hoạt xã hội.

Quyền quản lí mang tính chất đơn phương, cho phép kiểm soát toàn diện, người quản lí được áp dụng các phương thức khác nhau để thực thi có hiệu quả quyền năng này, quyền quản lí mang tính mệnh lệnh hành chính và quản lí lao động là quyền năng có giới hạn.

XEM THÊM : Khái Niệm Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Lĩnh Vực Lâm Nghiệp

Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động
Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động

          Thứ hai, đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công.

Hợp đồng lao động thực chất là một loại quan hệ mua bán, đối tượng là sức lao động – một loại hàng hóa đặc biệt. Khi người sử dụng lao động mua hàng hóa sức lao động, họ được “sở hữu”  một quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức, … của người lao động và để thực hiện đươc yêu cầu nói trên, người lao động phải cung ứng sức lao động của mình biểu thị thông qua những khoảng thời gian đã được xác định (ngày làm việc, tuần làm việc,…). Như vây, sức lao động được mua bán trên thị trường là một loại hàng hóa rất trừu tượng, do đó các bên phải mua bán thông qua một việc làm. Là đối tượng của hợp đồng lao động, việc làm phải có trả công. Người lao động bỏ công sức để thực hiện công việc người sử dụng lao động giao cho và khi hoàn thành công việc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trả công cho quá trình lao động đó, dù việc kinh doanh của người sử dụng lao động có lãi hay không.

Thứ ba, hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện.

Trong quan hệ hợp đồng hợp đồng lao động các bên chú ý đến lao động quá khứ và cả lao động sống, tức lao động đang có, lao động đang diễn ra. Hơn nữa, hợp đồng lao động thường được thực hiện trong môi trường xã hội hóa, có tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao. Vì vậy, khi người sử dụng lao động không chỉ quan tâm đến trình độ, chuyên môn của người lao động mà còn quan tâm nhân thân của người lao động. Do đó, người lao động phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được dịch chuyển cho người thứ ba (trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động, theo đó thì người lao động có thể chuyển dịch nghĩa vụ lao động của mình cho người khác nếu có sự đồng ý của người sử dụng lao động).

Đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động mặt khác, trong hợp đồng lao động ngoài những quyền lợi do hai bên thỏa thuận thì người lao động còn có một số chế độ, quyền lợi theo quy định của pháp luật như quyền nghỉ hàng năm, nghỉ lễ tết, quyền hưởng chế độ hưu trí… Những quyền lợi này của người lao động chỉ được hiện thực hóa trên cơ sở sự cống hiến cho xã hội của người lao động (chủ yếu thể hiện thông qua thời gian làm việc, mức tiền lương,…). Vì vậy, để được hưởng những quyền lợi nói trên người lao động phải trực tiếp thực hiện hợp đồng lao động.

Thứ tư, trong hợp đồng lao động có sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bới những giới hạn pháp lý nhất định.

Trong tất cả các quan hệ hợp đồng sự thỏa thuận của các bên phải luôn đảm bảo các nguyên tắc chung đó là bình đẳng, tự do, không trái pháp luật. Trong quan hệ HĐLĐ các bên tham gia cũng phải đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc chung này. Ngoài ra, HĐLĐ còn luôn bị chi phối bởi nguyên tắc quyền lợi của NLĐ là tối đa và nghĩa vụ là tối thiểu. Có thể nhận thấy rõ nguyên tắc bất di bất dịch này trong tất cả các điều khoản của BLLĐ 1994 sửa đổi và hiện nay là BLLĐ năm 2012. Ví dụ để đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong thời gian thử việc thì BLLĐ năm 1994 sửa đổi đã quy định mức tiền lương trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc đó. “Tiền lương của NLĐ trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó”. Tóm lại, trong quan hệ HĐLĐ, các bên có quyền tự do thỏa thuận nhưng sự thỏa thuận đó phải tuân thủ quy định pháp luật và phải theo hướng có lợi cho NLĐ. Bởi lẽ, một bên của HĐLĐ là NLĐ luôn cần được bảo vệ để duy trì và phát triển sức lao động, tránh các trường hợp NLĐ vì gặp khó khăn mà phải chấp nhận các điều khoản bất lợi do NSDLĐ đưa ra. Thời hạn của HĐLĐ có thể được xác định từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào đó song cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc. Theo quy định của hiện hành thì có ba loại HĐLĐ đó là HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn và HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Việc lựa chọn loại HĐLĐ để ký kết phải dựa trên tính chất, đặc thù của từng loại công việc.

Thứ năm, hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô định.

   Đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động Thời hạn của HĐLĐ có thể được xác định từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào đó song cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc. Theo quy định của hiện hành thì có ba loại HĐLĐ đó là HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn và HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Việc lựa chọn loại HĐLĐ để ký kết phải dựa trên tính chất, đặc thù của từng loại công việc.

XEM THÊM : Đề Tài Làm Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Luật 2021

 

Điều 15, Bộ luật lao động 2012

Điều 28, Bộ luật lao động 2012

Và ngay trên đây là toàn bộ các khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động mà mình đã liệt kê và đã chia sẻ đến cho các bạn. Các bạn có thể xem và tham khảo để bổ sung thêm nguồn kiến thức cho chính bản thân mình. Ngoài ra, nếu bạn đang trục trặc về vấn đề phải làm một bài tiểu luận hay thậm chí là luận văn thì hãy liên hệ với thuê viết luận văn thạc sĩ của chúng tôi qua zalo : 0917.193.864 để được tư vấn và báo giá làm bài trọn gói.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*