Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư, Hay Nhất

Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư
Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư là nội dung mà ngày hôm nay mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn cùng xem và tham khảo nhé, nguồn tài liệu dưới đây mình đã tiến hành triển khai nhiều nội dung như là không quốc hữu hoá không tịch thu bằng các biện pháp hành chính,vấn đề trưng mua trưng dụng tài sản của nhà đầu tư,bảo đảm quyền chuyển vốn và tài sản nhà đầu tư của nước ngoài, bảo hộ quyền sỡ hữu trí tuệ…vv.v.v.v.v

Bạn đang cần viết thuê một bài báo cáo thực tập luật? Đừng quá lo lắng, vì hiện tại bên mình có nhận viết thuê báo cáo thực tập ngành luật với nhiều đề tài đa dạng phong phú khác nhau. Bạn đang gặp trục trặc về vấn đề phải hoàn thiện một bài báo cáo, ngay bây giờ đây hãy liên hệ ngay đến viết thuê báo cáo thực tập của chúng tôi và nhắn tin qua zalo 0917.193.864 để được tư vấn báo giá cụ thể và được hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư Hay Nhất Hiện Nay

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam bảo đảm vốn và tài sản của nhà đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh. Vì tính chất quan trọng của mình, bảo đảm vốn và tài sản là nội dung chính được hầu hết các quốc gia khi tiến hành xây dựng pháp luật về bảo hộ đầu tư quan tâm và điều chỉnh đầu tiên. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và cam kết bảo đảm vốn và tài sản của nhà đầu tư bằng những quy định cụ thể. Đó là:

        Một là, không quốc hữu hóa, không tịch thu bằng các biện pháp hành chính 

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư  đối với tài sản là một trong những cách tước đoạt quyền sở hữu, do Nhà nước thực hiện nhằm chuyển quyền sở hữu chủ tài sản sang cho Nhà nước mà không có bất kỳ hình thức bối thường nào. Trong lý luận của pháp luật đầu tư quốc tế, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư nước ngoài nghĩa là cách thức mà Nhà nước áp dụng nhằm chấm dứt quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp cụ thể. Đối tượng của quốc hữu hóa thường sẽ là tất cả nhà đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế hoặc trong một ngành công nghiệp cụ thể. Nhiều quốc gia trên thế giới đã quốc hữu góa tất cả diện tích dành cho trồng trọt (2005); Bolivia quốc hữu hóa các doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí, tài nguyên rừng (2006); Venezula quốc hữu hóa ngành điện, viễn thông, dầu khí, khai khoáng (2006 – 2007)… Điều này đã tạo cho các nhà đầu tư nhiều quan ngại về tính ổn định của môi trường đầu tư cũng như bất an bởi vốn và tài sản của họ có thể bị tước đi bất kỳ lúc nào theo nhu cầu và chủ trưởng của Nhà nước nơi tiếp nhận đầu tư. Xuất phát từ thực trạng trên, việc xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng về vấn đề này là vô cùng cần thiết trong việc ổn định tâm lý của nhà đầu tư.

XEM THÊM : Báo Giá Viết Thuê Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư
Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam ở Việt Nam, Nhà nước ta cam kết mạnh mẽ không quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư. Tại Hiến pháp năm 1992 (điều 25) và Hiến pháp 2013 quy định: ”     Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa[1]”. Luật đầu tư năm 2020 cũng khẳng định: ” Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính[2]”.

        Hai là, vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư

Từ góc độ quan hệ quốc tế, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư dẫn tới những căng thẳng trong quan hệ giữa các quốc gia liên quan, bao gồm quốc gia thực hiện hành vi quốc hữu hóa và quốc gia có công dân, pháp nhân có tài sản bị tước đoạt. Tuy nhiên, hành vi này không bị cấm hoặc bị coi là sự vi phạm pháp luật quốc tế, trái lại, chúng coi là việc thực thi chủ quyền quốc gia. Quyền trưng thu, trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức bởi nhà nước nhằm phục vụ các mục đích chính trị – kinh tế quốc gia được chấp nhận rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Vấn đè này được khẳng định trong hai văn kiện quốc tế quan trọng là Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc (1962) về Chủ quyền vĩnh viễn của các quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và Hiến chương của Liên hợp quốc về các quyền và  nghĩa vụ kinh tế của các quốc gia (1974).

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam các quốc gia đang phát triển, đứng đầu là Mỹ luôn có quan điểm rằng pháp luật quốc tế đòi hỏi một tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong lĩnh vực bảo hộ đầu tư (tiếng anh là investment protection) vì có những quyền không thể dịch chuyển, được công nhận bởi pháp luật quốc tế mà quốc gia dành cho nhà đầu tư nước ngoài dù luật trong nước không quy định. ”Trong vụ tranh chấp giữa Mexico và các doanh nghiệp Mỹ vì các chính sách quốc hữu hóa tài sản của doanh nghiệp trong ngành dầu khí tại Mexico vào năm 1938, Mỹ đã ban hành Đạo luật Hull nhằm trừng phạt thương mại đối với Mexico vì nước này đã vi phạm chuẩn mực quốc tế bảo hộ đầu tư”. Theo Đạo luật Hull: ”việc bồi thường tương xứng, hiệu quả và kịp thời cho những tài sản bị tịch thu” được quy định bởi pháp luật quốc tế và là nghĩa vụ quốc tế mà Chính phủ một quốc gia phải bảo hộ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đều mong muốn gia tăng mức độ uy tín trước các nhà đầu tư, nhưng họ không thừa nhận một tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong bảo hộ đầu tư và trách nhiệm bồi thường ”đầy đủ, ngay lập tức” cho nhà đầu tư nước ngoài có tài sản bị truất hữu như một nguyên tắc đương nhiên của tập quán quốc tế. Hầu hết các quốc gia (đang phát triển) vẫn thường lập luận rằng, việc xác định trách nhiệm cũng như phạm vi trách nhiệm bồi thường phải do quốc gia quyết định dựa trên nguyên tắc chủ quyền kinh tế của quốc gia trong Luật quốc tế.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư hiện nay, nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương về đầu tư và hiệp định thương mại khu vực đã có xu hướng ghi nhận điều khoản về trách nhiệm bồi thường trong khu vực đã có xu hướng ghi nhận điều khoản về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp quốc hữu hóa là nhà nước phải bồi thường ”nhanh chóng tương ứng và hiệu quả” (prompt, adequate and effective). Ví dụ: Điều 14 Hiệp định đầu tư toàn diện của ASEAN (ACIA) quy định ”nước thành viên tiếp nhận đầu tư phải bồi thường thích hợp, ngay lập tức, tương ứng với giá thị trường (…) cho nhà đầu tư bị ảnh hường từ biện pháp truất hoặc quốc hữu hóa của mình”.

Ở nước ta, từ khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1994 được ban hành, nguyên tác bảo hộ không quốc hữu hóa, không tịch thu bằng các biện pháp hành chính vốn và tài sản của nhà đầu tư ở Việt Nam luôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, từ Hiến pháp cho tới các văn bản pháp luật chuyên ngành. Tại Luật đầu tư 2020 quy định: ”Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan[3]”.

XEM THÊM : 27 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Kinh Tế Tham Khảo Hay

Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư
Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam để cụ thể hóa các quy định pháp lý liên quan đến ”trưng mua, trưng dụng tài sản của các nhà đầu tư nói riêng và các chủ thể trong xã hội nói chung”, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008. Luật này ra đời đã giải đáp được các băn khoăn của các nhà đầu tư trưng dụng trong trường hợp pháp luật quy định. Luật đã quy định cụ thể và rõ ràng việc tiến hành bồi thương trưng mua trưng dụng cũng như các nguyên tắc, điều kiện, hình thức và hiệu lực của quy định mua, trưng dụng (Điều 4,5,6); thể hiện rõ chính sách chủa Nhà nước Việt Nam liên quan đến trưng mua, trưng dụng của Nhà nước (Điều 3)… Luật cũng đã cụ thể hóa các cam kết của Chính phủ Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới về khuyên khích và bảo hộ đầu tư. Việc trưng mua, trưng dụng phải đáp ứng được các điều kiện đó là: ”để sử dụng vào mục đích công[4]”; ”tuân thủ theo các thủ tục pháp luật quy định[5]”; ”không phân biệt đối xử[6]”; ”có sự bồi thường theo giá thị trường[7]”.

Qua nghiên cứu có thể thấy, việc cụ thể hóa các quy định về trưng mua, trưng dụng đã góp phần bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, thu hút đầu tư.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư các biện pháp bảo hộ về vốn và tài sản cho các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ được quy định trong Luật đầu tư mà còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau mà trước tiên phải kể tới Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở kế thừa Hiến pháp năm 1992 đã quy định: ”Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam được bảo hộ tính mạng, tài sản và và các quyền, lợi ích chính đáng của pháp luật Việt Nam[8]”. Luật nhà ở sửa đổi bổ sung năm 2014 cũng công nhận quyền sở hữu nhà ở đối với người nước ngoài là ”cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài không có chức năng kinh doanh bất động sản và ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam”. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có nhiều quy định về bảo hộ quyền sở hữu và một trong số đó là quyền thừa kế. Quyền thừa kế có vai trò qun trọng đố với việc bảo hộ đầu tư vì vấn đề liên quan đến thừa kế nhà, kho tàng, nhà xưởng… và được quyền tiếp tục thực hiện các hoạt động đầu tư. Khi hết thời hạn đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài không gia hạn Giấy phép đầu tư thì các nhà đầu tư phải ban hành cho các doanh nghiệp Việt Nam hoặc bằng những cách phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và chuyển tiền hoặc dòng tài sản ra nước ngoài theo đúng quy định.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam vấn đề này cũng được quy định trong pháp luật của các nước ASEAN như: ở Thái Lan tất cả khoản đầu tư trong các ngành công nghiệp đều được bảo hộ không bị trưng thu mà không có sự đên bù thỏa đáng; Luật pháp Philippin bảo đảm vốn đầu tư nước ngoài không bị bị trưng thu trừ trường hợp vì mục đích công hay vì lợi ích quốc gia. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư nước ngoài sẽ nhận được các khoản bồi thường thỏa đáng bằng ngoại tệ mà nhà đầu tư đã sử dụng để đầu tư. Pháp luật Indonesia ghi nhận đầu tư nước ngoài được bảo hộ sẽ không bị quốc hữu hóa, tịch thu hay cản trở việc sử dụng vốn và hủy bỏ các quyền này được Quốc hội thông qua dưới dạng luật.

        Ba là, bảo đảm quyền chuyển vốn và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài

Đây là biện pháp bảo hộ đầu tư được áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài có hoạt động đầu tư tại Việt Nam, tạo điều kiện cho họ trong việc chuyển vốn, tài sản hợp pháp trong quá trình đầu tư kinh doanh của mình khỏi biên giới quốc gia sở tại.

       Bốn là, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ là một trong những tài sản có giá trị rất quan trọng. Trong hoạt đầu tư, nhà đầu tư có thể góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, hay thu lợi nhuận từ việc chuyển giao tương đối quyền sở hữu trí tuệ cho đối tác.

Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các nhà đầu tư được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Bộ luật dân sự năm 2015, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2019); luật chuyển giao công nghệ năm 2017 và các quy định có liên quan trong Bộ luật hình sự, pháp luật hành chính và các cam kết trong Điều ước quốc tế và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà Việt Nam tham gia. Luật đầu tư năm 2020 đã khẳng định: ”Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư[9]”. Các ”quyền và lợi ích hợp pháp khác” ở đây cũng bao gồm cả quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ.

XEM THÊM : Đề Tài Viết Báo Cáo Thực Tập Luật Tại Văn Phòng Luật Công Chứng

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam ngoài ra, Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định song phương và đa phương liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như Hiệp định thiết lập quyền tác giả Việt Nam – Hoa Kỳ (1997); Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2000) và đặc biệt là Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (2004). Theo cam kết tại các Hiệp định song phương với Hoa Kỳ và các yêu cầu của WTO, Việt Nam đã gia nhập công ước Geneva (về bảo hộ nhà xuất bản ghi âm chống việc không được sao chép bản ghi âm của họ) năm 2005, Công ước Brussels (2006) và tuân thủ các quy định của hiệp định TRIPS.

Nhìn chung, pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ của Việt Nam hầu như đã đáp ứng tiêu chuẩn về ”tinh thần đầy đủ” theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế quan trọng khác về sở hữu trí tuệ. Pháp luật đã quy định bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ bắt buộc phải bảo hộ theo các chỉ tiêu về nội dung quyền, thời hạn được hưởng quyền, cơ chế bảo vệ quyền phù hợp với các chuẩn mực của điều ước quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn bị đánh giá là quốc gia có vi phạm sở hữu trí tuệ cao trên thế giới. Vấn đề nằm ở chỗ, việc thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở nước ta còn bị xem nhẹ, nhận thức về vấn đề này của nhiều cá nhân, kể cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn rất hạn chế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của nhà đầu tư tại Việt Nam.

        Năm là, bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư trong trường hợp thay đổi chính sách pháp luật

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, chính sách, pháp luật và tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước luôn có sự tác đông qua lại lẫn nhau. Chính sách, pháp luật của một quốc gia, mặc dù có sự ổn định trong một khoảng thởi gian nhất định nhưng dưới sự vận động không ngừng của các yếu tố văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế… các chính sách này cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

Điều 13 Luật đầu tư quy định liên quan đến vấn đề này như sau:

Trường hợp ”văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư mới, ưu đãi đầu tư cao hơn thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư, trừ ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 5 Điều 20 của Luật đầu tư năm 2020[10]”.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư trường hợp ”văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án đầu tư[11]”. ”Quy định tại khoản 2 Điều này không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản pháp luật vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường[12]”.

Trường hợp ”Trường hợp nhà đầu tư không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều này thì được xem xét, giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp sau đây: a) Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế; b) Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư; c) Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại[13]”. Đối với ”biện pháp bảo đảm đầu tư quy định tại khoản 4 Điều này, nhà đầu tư phải có yêu cầu bằng văn bản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành[14]”.

Điều 4 Nghị định 31/2021/NĐ – CP hướng dẫn về vấn đề này như sau: Những ưu đãi đầu tư được bảo đảm theo quy định tại khoản 1 điều 4 Nghị định 31/2021/NĐ – CP bao gồm: ”a) Ưu đãi đầu tư được quy định tại Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác do người có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, áp dụng theo quy định của pháp luật; b) Ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định của pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản [15]này”.

        Sáu là, bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp và hoạt động đầu tư

Đất nước Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó Việt Nam đã tham gia kí kết nhiều điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư ở nhiều cấp độ như song phương, khu vực, toàn cầu. Trong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, tranh chấp là việc khó tránh khỏi xảy ra giữa các nhà đầu tư. Các tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh có thể bao gồm:

– Tranh chấp giữa Chính phủ (Nhà nước) Việt Nam với chính phủ nước ngoài bao gồm tranh chấp giữa các thành viên WTO theo cơ chế giải quyết của WTO hoặc theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ FTA hoặc các hiệp định thương mại.

– Tranh chấp giữa Chính phủ (Nhà nước), cơ quan Nhà nước Việt Nam với các doanh nghiệp cá nhân.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam tranh chấp giữa doanh nghiệp với nhau.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư trong các loại tranh chấp quốc tế trên, thì tranh chấp đầu tư quốc tế có xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp. Khi tranh chấp phát sinh, yêu cầu đặt ra là phải thiết lập được một cơ chế giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và thỏa đáng để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư cũng như môi trường kinh doanh. Chính vì vậy, đây là một trong những biện pháp bảo hộ đầu tư được hầu hết các nhà đầu tư lưu ý, quan tâm trước khi quyết định lựa chọn đầu tư. Nhận thức được điều này, pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm giải quyết tranh chấp đầu tư như là một trong những biện pháp bảo hộ đầu tư quan trọng. Điều 14 Luật đầu tư năm 2020 quy định các phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư bao gồm thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án.

        Bảy là, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư

Nguyên tắc bảo đảm đối xử bình đẳng là nguyên tắc vô cùng quan trọng không thể thiếu được trong việc bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư nghĩa là việc các nhà đầu tư cùng phải được hưởng các quyền như nhau và cùng thực hiện các nghĩa vụ như nhau đối với Nhà nước trong cùng hoàn cảnh, điều kiện như nhau. Luật đầu tư năm 2020 khẳng định cam kết của nhà nước trong việc ”đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư”. Điều này được thể hiện ”Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế[16]”.

        Tám là, mở cửa thị trường đầu tư liên quan đến thương mại

Mở cửa thị trường đầu tư là việc nhà nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề mà trước đó quốc gia sở tại chưa cho phép hoặc hạn chế đầu tư nước ngoài nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ các nhà đầu tư tránh khỏi bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ các nhà đầu tư trong nước tránh khỏi tình trạng phải cạnh tranh với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để bắt kịp với nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay thì việc mở rộng thị trường nói riêng và thị trường đầu tư nói chung là một điều tất yếu. Pháp luật đầu tư của Việt Nam hiện nay đã xây dựng những quy định phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tại luật đầu tư năm 2020 quy định: ” Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về đầu tư mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên[17]”.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam đã đạt được thành tựu nổi bật. Đầu tiên là thành viên chính thức của ASEAN vào ngày 25/07/1995 và ký Nghị định thư CEPT và Hiệp định AFTA. Theo đó, thời điểm tự do hóa thương mại, dịch vụ, thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN vào ngày 25/07/1995 và ký Nghị định thư CEPT và Hiệp định AFTA. Theo đó, thời điểm tự do hóa thương mại, dịch vụ, thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN được xác định vào năm 2015, tức là năm nay và điều đó trở thành hiện thực. Đồng thời ASEAN cũng thúc đẩy nhiều chương trình hợp tác kinh tế nội khối liên quan đến lĩnh vực đầu tư (AIA) và nhiều lĩnh vực, ngành nghề cụ thể như hợp tác trong giao thông vận tải, công nghiệp khai khoáng, tiêu chuẩn chất lượng… Ngoài ra, các nước thành viên ASEAN chủ trương thực hiện rất nhiều hoạt dộng hợp tác với các nước ngoài khối thông qua việc tiến hành đàm phán khu vực FTA giữa ASEAN với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, EU, Nga… Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một trong số 25 thành viên sáng lập diễn đàn ASEAM vào tháng 3/1996 và tham gia Diễn đàn hợp tác APEC từ tháng 11/1998.

Trong hợp tác APEC, việc xây dựng các dự án hỗ trợ các nước thành viên cũng như là một trong những hoạt động chính nhằm bảo hộ nâng cao năng lực thực thi chính sách của các nước thành viên trong lĩnh vực cụ thể như thuận lợi hóa thương mại, tự do hóa khu vực (RTA/FTA), an toàn thương mại trong khu vực, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư phát triển thương mại điện tử, tăng cường giáo dục từ xa…

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư một bước ngoặt nữa là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, Nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về đầu tư mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên đây là bước tiến mới của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, mở cửa thị trường và khẳng định sự thực thi các cam kết đã ký với các quốc gia trên thế giới. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên WTO xâm nhập vào thị trường Việt Nam, Việt Nam giảm thuế nhập khẩu đối với hàng nông nghiệp và công nghiệp, mở cửa thị trường dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải… cho các nhà đầu tư nước ngoài cam kết bảo vệ sở hữu trí tuệ ở mức độ phù hợp bằng các thủ tục pháp lý trong nước tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế.

Hiện tại, Việt Nam đã ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hiệp định được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thông qua CTTP sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa đầu tư của của các nước vào Việt Nam.

Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư tuy nhiên, Việt Nam đang còn gặp phải một số những khó khăn nhất định trong việc ký kết và thực thi các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động thương mại nói riêng và đầu tư nói chung. Ví dụ, lộ trình và cách thức thực hiện cam kết theo lộ trình được Việt Nam ký kết trong các Hiệp định song phương, đa phương không giống nhau dẫn đến sự khó khăn trong quá trình thực thi hay như việc thực thi các cam kết WTO về đầu tư của Việt Nam còn nhiều vướng mắc…

Tóm lại, việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, tăng sức cạnh tranh giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên một môi trường đầu tư sôi nổi, hấp dẫn. Mặt khác, nhà nước cũng cần phải có những bước đi thận trọng vấn đề mở cửa, cần phải tính đến yếu tố liệu doanh nghiệp trong nước đã đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài hay chưa. Nếu không có sự tính toán cẩn thận, chính sách này có thể như con dao hai lưỡi đẩy các doanh nghiệp trong nước vào hoàn cảnh khó khăn.

Trên đây là toàn bộ nội dung Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Đầu Tư, Hay Nhất mà mình đã liệt kê và đồng thời cũng đã chia sẻ kĩ càng cho các bạn trên đây. Hi vọng nguồn tài liệu mà mình đã chia sẻ ít nhiều sẽ giúp cho các bạn có nhiều kiến thức hơn về pháp luật việt nam về việc bảo hộ đầu tư. Nếu như trong suốt quá trình mà mình đã triển khai như trên chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của bạn, bạn cần viết một bài báo cáo thực tập hay hơn,…vvv..v.vv Mọi vấn đề bạn đang gặp trục trặc hãy cứ liên hệ với nhận viết thuê báo cáo thực tập và nhanh chóng nhắn tin cho chúng tôi qua zalo 0917.193.864 để được tư vấn và đồng hành cho đến khi hoàn thiện bài báo cáo thực tập nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Điều 51 Hiến pháp năm 2013.

[2] Khoản 1 điều 10 Luật đầu tư năm 2020.

[3] Khoản 2 điều 10 Luật đầu tư 2020.

[4] Khoản 1 điều 4 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008.

[5] Khoản 3 điều 4 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008.

[6] Khoản 2 điều 4 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008.

[7] Khoản 2 điều 3 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008.

[8] Điều 48 Hiến pháp năm 2013.

[9] Khoản 4 điều 5 Luật đầu tư năm 2020.

[10] Khoản 1 điều 13 Luật đầu tư năm 2020.

[11] Khoản 2 điều 13 Luật đầu tư năm 2020.

[12] Khoản 3 điều 13 Luật đầu tư năm 2020.

[13] Khoản 4 điều 13 Luật đầu tư năm 2020.

[14] Khoản 5 điều 13 Luật đầu tư năm 2020.

[15] Khoản 2 điều 4 Nghị định 31/2021/NĐ – CP “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư”.

[16] Khoản 5 điều 5 Luật đầu tư năm 2020.

[17] Khoản 6 điều 5 Luật đâu tư năm 2020.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*