Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch
Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Download Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch Tên đề tài: pháp luật về hoạt động đăng ký và quản lý trong lĩnh vực kết hôn. Thực trạng và giải pháp từ thực tiễn ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đề cương Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

  • MỤC LỤC
  • PHẦN MỞ ĐẦU
  • Lý do chọn đề tài
  • Mục đích nghiên cứu
  • Phạm vi nghiên cứu
  • PHẦN NỘI DUNG
  • Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
  • 1.1. Kết hôn Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch
  • 1.2. Những quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn
  • Chương 2: THỰC TRẠNG ĐĂNG KÍ KẾT HÔN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • 2.1. Giới thiệu khái quát về Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
  • 2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh
  • 2.3. Đánh giá chung về tình hình thực hiện pháp luật về đăng ký và quản lý đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh
  • Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • 3.1. Định hướng của Đảng và Nhà nước về hoạt động đăng ký và quản lý kết hôn
  • 3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
  • III: PHẦN KẾT LUẬN
  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lời mở đầu Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

   1. Lý do chọn đề tài Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Hôn nhân là sự kết hợp hoàn tự nguyện giữa một nam và một nữ trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng nhau, được xác lập sau khi nam nữ đăng ký kết hôn khi đủ điều kiện kết hôn và tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền. Hôn nhân là cơ sở hình thành nên gia đình, hai người đến với nhau bằng tình yêu và cùng nhau xây dựng mái ấm, tạo nên một gia đình hạnh phúc. Hôn nhân điều chỉnh mối quan hệ giữa đàn ông và phụ nữ, cho phép nam nữ sống chung với nhau đồng thời đặt ra các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau. Trên thực tế, lễ cưới hỏi thường được xem là sự kiện đánh dấu sự chính thức bắt đầu của hôn nhân. Tuy nhiên, về mặt luật pháp, hôn nhân bắt đầu từ việc đăng ký kết hôn, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định pháp luật khi đủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, là chế độ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau[1]. Các quốc gia trên thế giới tồn tại nhiều kiểu hôn nhân khác nhau như hôn nhân một vợ một chồng, hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng, hôn nhân đa thê, hôn nhân đồng tính, nam nữ sống chung như vợ chồng… Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ công nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Hiện nay, vấn đề đằng kí kết hôn đã và đang trở thành một trong những vấn đề quan trọng rất được các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương thực hiện một cách cụ thể trong quá trình cải cách hành chính trong thực tế. Các văn bản pháp luật về vấn đề này đã được hoàn thiện tương đối đầy đủ thông qua việc ban hành và đưa vào thực hiện các văn bản về hôn nhân và gia đình, hộ tịch, cư trú về vấn đề đằng kí kết hôn. Với tính ưu việt và tầm quan trọng của vấn đề đăng ký kết hôn đã trở thành các quy định quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ này đã khẳng định vai trò quan trọng trong các quy định về vấn đề Hôn nhân và gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do vậy góp phần hoàn thiện quy định về quá trình tăng cường sự quản lý của Nhà nước về dân cư là điều vô cùng cần thiết. Điều này đã giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động đăng ký kết hôn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Thực tế ở nước ta, đặc biệt là Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa bên cạnh những kết quả đã đạt được trong vấn đề quy định về đăng ký kết hôn còn bộc lộ những hạn chế trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, học viên chọn đề đài: “Pháp luật về đăng ký và quản lý trong lĩnh vực kết hôn. Thực trạng và giải pháp từ thực tiễn Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa” làm tiểu luận môn học Đăng kí và quản lý hộ tịch làm Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

XEM THÊM ====> Tiểu Luận Môn Xã Hội Học Pháp Luật – Phân tích tội Mua bán người

XEM THÊM ====>  Download Bài Thu Hoạch Môn Học Luật Lao Động 9 ĐIỂM !

XEM THÊM ====> Tải 10 Bài Mẫu Tiểu Luận Môn Luật Quốc Tế Chọn lọc [FREE, Điểm cao]

  1. Mục đích nghiên cứu Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

            Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

– Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đăng ký và quản lý kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành.

– Đánh giá thực trạng đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

– Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

  1. Phạm vi nghiên cứu

            Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

  1. Kết cấu của đề tài

            Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Kết cầu của đề tài gồm có 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Một số cơ sở lý luận về đăng ký quản lý kết hôn theo quy định pháp luật

Chương 2: Thực trạng đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

[1] Điều 36, Hiến pháp năm 2013

Phần nội dung Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

   1.1. Kết hôn

            Quan hệ hôn nhân và gia đình là một hình thức của quan hệ xã hội được xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, quan hệ này tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người. Ngay cả khi không có bất kỳ một quy tắc, một quy định nào thì quan hệ hôn nhân và gia đình từ trước đến nay vẫn được xác lập, con người vẫn chung sống, sinh con đẻ cái tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác. Do đó, quyền kết hôn là một quyền tự nhiên của con người. Trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội khách quan mang tính ý chí. Kết hôn không còn là một quyền tự do, bản năng của con người mà trở  thành một quan hệ xã hội được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Dưới thời phong kiến, hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa đôi bên mà hôn nhân còn là sự giao lưu giữa các dòng họ kèm theo đó là những mục đích về kinh tế, chính trị nhất định. Chính vì vậy mà sự quyết định của cha mẹ là yếu tố bắt buộc trong quan hệ hôn nhân gắn liền với quan điểm phải “môn đăng hộ đối”. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Kết hôn được hiểu là sự kết hợp hai người khác giới để lập gia đình, sinh con đẻ cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình[1]”.

Theo Từ điển Tiếng Việt trực tuyến: “kết hôn là sự kết hợp hai người khác giới để lập gia đình, sinh đẻ con cái, thực hiện chức năng sinh học và chức nằng khác của gia đình”.

Theo quan điểm của luật gia Nguyễn Quang Quýnh, “Giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định”. [2]Luật gia Vũ Văn Mẫu lại nhìn nhận, “Giá thú được hiểu là việc trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ”[3].

            Khoản 5 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Từ khái niệm ở điều 3 nghiên cứu hai khía cạnh là kết hôn và đăng kí kết hôn:

Từ định nghĩa kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho thấy rằng hai bên nam nữ khi kết hôn phải thể hiện và đảm bảo hai yếu tố mới được thừa nhận và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật đó là:

Thứ nhất, khi kết hôn phải thể hiện ý chí của hai bên nam nữ là mong muốn kết hôn với nhau, xác lập quan hệ vợ chồng với nhau. Sự thể hiện ý chí của nam và nữ phải hoàn toàn tự nguyện không bị cưỡng ép, bị lừa dối.

Thứ hai, nam nữ khi kết hôn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, gồm: điều kiện về độ tuổi, về tính tự nguyện, không phải là người mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp luật cấm kết hôn. Đây là một yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân, cho mối quan hệ vợ chồng có thể tồn tại lâu dài và bền vững. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Cấp giấy đăng kí kết hôn là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước, là một thủ tục quan trọng nhằm công nhận mối quan hệ giữa nam và nữ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Có thể hiểu đăng kí kết hôn là ghi vào Sổ đăng kí kết hôn để chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng trước pháp luật. Đăng kí kết hôn là thủ tục pháp lí cần thiết làm cơ sở để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân của nam nữ. Để được đăng kí kết hôn, nam nữ phải làm tờ khai đăng kí kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn. Trên cơ sở đó, cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành xác minh, nếu các bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì tổ chức đăng kí kết hôn cho nam nữ, ghi việc kết hôn vào sổ đăng kí kết hôn và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ. Kể từ ngày đăng kí kết hôn, các bên nam nữ phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật . Như vậy, có thể hiểu rằng muốn phát sinh quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đồng thời, việc đăng ký kế hôn phải tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được quy định.

[1] Hội đồng Quốc gia (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 2, tr476, NXB Bách Khoa Hà Nội

[2] Nguyễn Quang Quýnh, (1968), Dân luật, quyển 1, bộ văn hóa giáo dục, tr.239, NXB Viện Đại học Cần Thơ

[3]Vũ Văn Mẫu và Lê Đình Chân (1968), Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến pháp, tr100, Tủ sách Đại học Sài

Gòn

Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch
Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

1.2. Những quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn

1.2.1. Quy định về điều kiện kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

            1.2.2. Thủ tục đăng kí kết hôn Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

1.2.3. Vai trò của hoạt động quản lý và đăng ký kết hôn

1.2.4. Chủ thể trong hoạt động đăng ký kết hôn

            1.2.5. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

XEM THÊM ===> Dịch vụ viết thuê tiểu luận

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐĂNG KÍ KẾT HÔN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

2.1. Giới thiệu khái quát về Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

            Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ: có diện tích 11.129,48 km2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Thanh Hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta. Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với 102 km đường bờ biển ở đây có thể phát triển hoạt động du lịch, khai thác cảng biển; có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt xuyên Việt và sân bay Thọ Xuân. Thêm vào đó, Thanh Hóa có quy mô diện tích lớn với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Thanh Hóa.

Theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2014, tỉnh Thanh Hoá có 3.496.600 người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ. Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương, có 579 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 6.031 thôn, xóm, bản làng; trong đó có 184 xã miền núi và 12 thị trấn miền núi (số liệu năm 2014). Tỉnh có 6 huyện, thị xã thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng.

Đặc điểm hành chính thể hiện tiềm năng to lớn về mặt xã hội của tỉnh, song cũng có không ít khó khăn, phức tạp cho việc quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn.

Dân cư phân bố không đồng đều theo các đơn vị hành chính và phân bố không đều giữa đồng bằng và miền đồi núi. Dân cư chủ yếu tập trung đông ở thành phố, thị xã, thị trấn ven biển, ven sông và thưa thớt ở các vùng núi. Theo Niên giám Thống kê năm 2014 Thanh Hóa, tỉnh ta có mật độ dân số là 314 người/km2. Riêng thành phố Thanh Hoá có mật độ là 2.384 người/km2, các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương có mật độ trên 1.100 người/km2. Trong khi đó tại các huyện miền núi như Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá có mật độ thấp, chỉ từ 39 người đến 46 người/km2.

            Căn cứ quyết định số 2629/QĐ – UBND ngày 05 tháng 08 năm 2021 về cơ cấu tổ chức của UBND tỉnh Thanh Hóa.

+ Chủ tịch đồng chí Đỗ Minh Tuấn

+ Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Thi (làm nhiệm vụ Phó chủ tịch thường trực).

+ Phó Chủ tịch: Mai Xuân Liêm

+ Phó chủ tịch Đầu Thanh Phùng

+ Phó chủ tịch Lê Đức Giang

Và các ủy viên như Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự; Giám đốc công an tỉnh; Giám đốc Sở công thương; Chánh thanh tra tỉnh; giám đốc sở nội vụ; Chánh văn phòng UBND tỉnh; giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư; giám đốc Sở tài chính; giám đốc sở xây dựng; giám đốc sở tài nguyên môi trường; giám đốc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn… Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

Uỷ ban nhân tỉnh có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn căn cứ theo điều 21 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019):

  1. Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định các nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, các điểm d, đ và e khoản 2, các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 19 của Luật tổ chức chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
  2. Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.
  3. Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi; thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền.
  4. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề án của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
  5. Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh và công tác quân sự địa phương; xây dựng và hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; xây dựng lực lượng dự bị động viên và huy động lực lượng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương.
  6. Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
  7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước ở trung ương phân cấp, ủy quyền. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch
  8. Phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Trong những năm qua thực hiện Luật hộ tịch và các văn bản liên quan như Nghị định 123/2015/NĐ – CP; Nghị định 87/2020/NĐ – CP đã được cấp ủy, chính quyền quan tâm sâu sát nên công tác quản lý hộ tịch đã đi vào nề nếp có nhiều tiến bộ so với những năm trước đây song vẫn còn tồn tại những khuyết điểm nhất định sớm cần được khắc phục.

2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh

2.3. Đánh giá chung về tình hình thực hiện pháp luật về đăng ký và quản lý đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh

            2.3.1. Ưu điểm

            2.3.2. Hạn chế

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

3.1. Định hướng của Đảng và Nhà nước về hoạt động đăng ký và quản lý kết hôn

            Đăng ký và quản lý kết hôn là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện. Thông qua hoạt động này, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước. Công tác đăng ký, quản lý kết hôn trong thời gian qua góp phần quan trọng vào sự ổn định, trật tự an toàn xã hội; hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch và đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch từ Trung ương đến cấp xã luôn được củng cố, kiện toàn; hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài; thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý kết hôn có sự cải cách một bước, ngày càng thuận lợi cho người dân; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký quản lý kết hôn được triển khai ở một số địa phương; đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài có chuyển biến tích cực …

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn, nên công tác đăng ký và quản lý kết hôn cần phải được đổi mới phù hợp với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong công tác đăng kí và quản lý kết hôn là:

– Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch theo hướng đơn giản, minh bạch, tạo sự kết nối với các lĩnh vực khác liên quan đến công dân, tiết kiệm chi phí cho người dân và Nhà nước.

– Bảo đảm phù hợp với các quy định có liên quan của Hiến pháp năm 2013, sự đồng bộ, thống nhất với các luật liên quan (như Luật quốc tịch, Luật nuôi con nuôi, Luật hôn nhân và gia đình, Luật căn cước công dân), cũng như định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự trong thời gian tới. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

– Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, trên cơ sở phân cấp hợp lý thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho cấp huyện và cấp xã; đề cao trách nhiệm, từng bước tăng cường tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch ở cấp huyện, cấp xã, tạo sự chuyển biến về chất trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.

– Luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước có hệ thống đăng ký hộ tịch phát triển, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

– Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành với nội dung và hình thức phù hợp, nâng cao nhận thức, hiểu biết của nhân dân. Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thông tin và truyền thông, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình ở Trung ương, địa phương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan tuyên truyền, phổ biến Luật hộ tịch đến người dân.

– Tổ chức rà soát, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ hộ tịch và kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong Luật hộ tịch.

Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và cần được triển khai, hoàn tất trong giai đoạn chuyển tiếp. Mục đích là nhằm rà soát, thống kê, phân loại để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ cho đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch trên cả nước cũng như tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong Luật. Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch cụ thể để hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện rà soát, đánh giá, thống kê và phân loại đối với đội ngũ công chức hiện nay; xác định rõ năng lực, trình độ và nhu cầu phải đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ để có kế hoạch thực hiện; tiếp tục kiện toàn đội ngũ công chức này, bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn được quy định trong Luật (trung cấp luật trở lên đối với công chức tư pháp – hộ tịch xã/phường; cử nhân luật đối với công chức Phòng Tư pháp cấp huyện; được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch đối với công chức làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện). Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục đăng ký và quản lý kết hôn

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục đăng ký và quản lý kết hôn

3.2.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện hiệu quả công tác thực thi pháp luật về thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

3.2.2.1. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ tư pháp hộ tịch

3.2.2.2. Tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành các pháp luật về đăng ký kết hôn

PHẦN KẾT LUẬN Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch

            Quản lý hộ tịch và đăng kí kết hôn là một trong những lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta. Đông thời có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật, đáp ứng với chương trình cải cách tư pháp trong tình hình mới. Pháp luật – công cụ quản lý xã hội của nhà nước cũng phát huy tốt ý nghĩa của mình trong việc quản lý hộ tịch và đăng kí kết hôn và xử lý các hành vi vi phạm trong vấn đề này. Nhìn chung Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản pháp lý có liên quan cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định tương đối đầy đủ, hợp lý những vấn đề cần thiết, là cơ sở pháp lý quan trọng để đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế, khi triển khai, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các quy định quản lý hộ tịch và đăng kí kết hôn chưa thực sự được áp dụng phổ biến, nhiều vi phạm về vấn đề này đã có những tác động không nhỏ đến cộng đồng, đồng thời những ảnh hưởng của các hành vi đó mang tính chất lâu dài, nghiêm trọng và khó khắc phục về tình trạng ban đầu. Do đó, các cơ quan chức năng cần có những biện pháp hữu hiệu để thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật về vấn đề này một cách chính xác các quyền lợi mà pháp luật đã trao. Từ đó, khẳng định tính tất yếu về việc thực hiện các quy định trong lĩnh vực này được thực hiện một cách chặt chẽ và đầy đủ, giúp cho các cơ quan thực thi pháp luật có thể áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, hợp lý bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể được pháp luật quy định.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
  2. Hiến pháp năm 2013
  3. Bộ luật dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  4. Luật hộ tịch (Luật số 60/2014/QH13) ngày 20 tháng 11 năm 2014.
  5. Luật hôn nhân và gia đình (Luật số 52/2014/QH14) ngày 19 tháng 06 năm 2014.
  6. Luật cư trú (Luật số 68/2020/QH14) ngày 13 tháng 12 năm 2014. Tiểu Luận Kết Thúc Học Phần Đăng Kí Và Quản Lí Hộ Tịch
  7. Nghị định 123/2015/NĐ – CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.
  8. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  9. Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  10. Thông tư số 15/2015/TT – BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015 ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phù quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*