Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật

Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật
Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật

📣 Download Free !!! Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật mình có để nút tải dưới cuối bài cho nên sau khi xem xong bài tiểu luận này các bạn có thể tải ngay và luôn nhé. Bài viết sau đây mình sẽ chia sẻ đến cho các bạn một bài đề tài tiểu luận mà chắc hẳn các bạn sinh viên đang học ngành luật cũng đang quan tâm và tìm kiếm, vì vậy hãy cùng mình xem và theo dõi hết bài tiểu luận này nhé.Bài tiểu luận mình cũng đã triển khai thành 3 phần như là mở đầu, nội dung, và cuối cùng là kết luận…. 

Trước đây chúng tôi đã từng viết một loạt 10 bài mẫu tiểu luận môn luật quốc tế chọn lọc hoàn toàn chất lượng cho nên các bạn có thể xem và tham khảo những bài mẫu này tại website luanvanluat.com của mình nhé. Tuy nhiên, ngoài việc chia sẻ bài tiểu luận thì bên mình đang có dịch vụ viết thuê tiểu luận theo yêu cầu, bên mình viết được nhiều đề tài từ chế độ khó đến dễ, viết được đa dạng các ngành luật phổ biến khác nhau. Nếu bạn đang cần làm một bài tiểu luận hoàn chỉnh thì tất nhiên không thể bỏ lỡ dịch vụ viết tiểu luận của mình mà thay vào đó là hãy liên hệ ngay đến dịch vụ làm tiểu luận luật của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài tiểu luận và hỗ trợ cho các bạn từ A đến Z nhé.

Mở Đầu Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế

Trong các hoạt động kinh doanh, thương mại, hôn nhân, gia đình…chỉ diễn ra ở phạm vi một quốc gia thì việc lựa chọn pháp luật nói chung và thỏa thuận chọn luật áp dụng hầu như không được đặt ra vì hoạt động này chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia và các quốc gia không cho phép các chủ thể chọn luật quốc gia để điều chỉnh các quan hệ này. Theo tác giả Nguyễn Bá Chiến (2009), “nếu như những hoạt động có yếu tố quốc tế, tức là liên quan đến hai hay nhiều quốc gia thì pháp luật của các quốc gia thì luật của tất cả các quốc gia đó đều có thể được áp dụng. Đây gọi là hiện tượng xung đột pháp luật. Việc giải quyết xung đột pháp luật hay còn gọi là chọn luật để từ đó cơ quan có thẩm quyền xác định được hệ thống pháp luật cần phải được áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài[1]”. Hiện nay quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng được ghi nhận như thế nào trong pháp luật Việt Nam có ý nghĩa cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Chính vì thế, sinh viên chọn đề tài: “Phương pháp xung đột trong việc giải quyết xung đột pháp luật. Lý giải mối quan hệ giữa việc giải quyết xung đột pháp luật và áp dụng pháp luật nước ngoài” làm tiểu luận môn học Tư pháp quốc tế.

XEM THÊM : Báo Giá Dịch Vụ Viết Thuê Tiểu Luận Ngành Luật

Nội Dung Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế

1. Khái niệm “xung đột pháp luật”

Theo giáo trình Tư pháp quốc tế của Đại học Luật Hà Nội: “Xung đột pháp luật được hiểu là trong một tình thế-trạng thái nhất định mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh một quan hệ pháp luật nhất định[2].

Theo giáo trình của Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh: “Xung đột pháp luật là hiện tượng khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài[3].

Xung đột pháp luật được hiểu là “sự xung khắc hay sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật, đó là một hiện tượng riêng có, hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế, sẽ xuất hiện khi có hai hệ thống pháp luật cùng có thể điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế[4]”

   Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế nguyên nhân phát sinh xung đột pháp luật, có thể thấy rằng “xung đột pháp luật là một hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế[5]”. Nó phát sinh bởi nhóm nguyên nhân sau: Một là, về nguyên nhân khách quan: “do pháp luật các nước có sự khác nhau; do đối tượng điều chỉnh và sự hiện diện của yếu tố nước ngoài[6]”. Hai là, về nguyên nhân chủ quan: “có sự thừa nhận khả năng, áp dụng pháp luật của ngoài nhà nước[7]”

Hiện nay, “xung đột pháp luật sẽ nãy sinh trong hầu hết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài[8]” trừ một số trường hợp đặc biệt như “quan hệ sở hữu trí tuệ với đặc điểm nổi bật là tính vô hình của tài sản, nên tài sản trí tuệ phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào, yêu cầu bảo hộ ở đâu thì được bảo hộ và chỉ bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ nước đó mà thôi[9]”. Cho nên đối với quan hệ này không có “xung đột pháp luật” vì có nguyên nhân khách quan nhưng không có nguyên nhân chủ quan. Nên không thể áp dụng luật nước ngoài để bảo hộ cho quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Tuy nhiên, “đối với quan hệ hợp đồng có đối tượng liên quan đến sở hữu trí tuệ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ; hoặc quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra được xem là cá quan hệ hơp đồng, bồi thường thiệt hại hay quan hệ dân sự bình thường và đều có xung đột pháp luật[10]”. Ví dụ: “Vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi doanh nghiệp nước A bán hàng hóa cho doanh nghiệp nước B và hàng hóa đang được đang được vận chuyển qua nước C thì xảy ra rủi ro. Vấn đề bồi thường thiệt hại được đặt ra nhưng để điều chỉnh quan hệ này hệ thống pháp luật ba nước A, B,C cùng có khả năng được áp dụng. Song pháp luật các nước có liên quan lại có những quy định khác nhau, theo pháp luật nước A thì vấn đề này được giải quyết theo luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại nhưng nước B lại quy định áp dụng luật của nước nơi xảy ra hậu qảu thực tế, hoặc thậm chí nước C lại có sự lựa chọn là luật của nước nơi Tòa án đang xét xử vụ án. Vậy pháp luật nước nào sẽ được áp dụng điều chỉnh[11]?”.

   Hiện nay, Tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như Tư pháp quốc tế có hai “phương pháp giải quyết xung đột” đó là: “phương pháp xung đột” và “phương pháp thực chất”. Hai phương pháp này “có mối quan hệ hài hòa, tác động hỗ trợ lẫn nhau tạo nên một cơ chế điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế và bảo đảm một trật tự pháp lý dân sự quốc tế[12]”.

XEM THÊM : Kho 999+ Bài Mẫu Tiểu Luận Khoa Luật Môn Luật

2. “Phương pháp xung đột”

Phương pháp xung đột – “phương pháp điều chỉnh gián tiếp, là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột nhằm lựa chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”. Phương pháp này được hình thành và xây dựng trên nền tảng các quy phạm xung đột của quốc gia (kể cả các quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên). “Điều này có ý nghĩa là cơ quan có thẩm quyền giải quyết lựa chọn pháp luật của nước này hay nước kia có hướng tới các yếu tố nước ngoài để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Công việc tiến hành lựa chọn hệ thống nước nào được áp dụng để giải quyết phải dựa trên quy định của quy phạm xung đột”.

  Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật là “quy phạm pháp luật đặc biệt mang tính chất đặc thù của tư pháp quốc tế. Không trực tiếp điều chỉnh nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Không trực tiếp điều chỉnh nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Chỉ đưa ra hệ thống pháp luật cần được áp dụng. Nội dug của quan hệ đó được giải quyết như thế nào phụ thuộc vào hệ thống pháp luật mà quy phạm xung đột dẫn chiếu đến”. Quy phạm xung đột là một quy phạm pháp luật đặc biệt, “mang tính ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể[13]”. “Quy phạm xung đột” có thể do “quốc gia tự gây dựng nên trong hệ thống pháp luật của mình gọi là quy phạm xung đột thông thường[14]”. Cũng có thể do “các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên trong điều ước quốc tế vầ lúc này nó được gọi tên là quy phạm xung đột thống nhất[15]”.

   Ví dụ: “Qua người quen giới thiệu, bà Nguyễn Thị Mỹ N – sinh năm 1983, HKTT: Xã A, huyện B, tỉnh G, Việt Nam; Địa chỉ tạm trú: Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam) và ông Chen Chien C – sinh năm 1982. Địa chỉ: Phường O, khu L, thành phố M, Đài Loan  có quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau. Sau một thời gian, bà và ông Chen Chien C quyết định kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh X cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/11/2015[16]”.

“Sau khi kết hôn, bà N và ông C đã tiến hành các thủ tục để bà N sang Đài Loan sinh sống. Tuy nhiên, do thủ tục bảo lãnh gặp trục trặc nhiều lần vì thiếu một số giấy tờ. Ông Chen Chien C quay lại Đài Loan để sinh sống và làm việc, còn bà vẫn thường trú ở Việt Nam với gia đình. Do trục trặc thủ tục nên ông C không thể bảo lãnh cho bà N sang Đài Loan để vợ chồng được đoàn tụ. Mặt khác, ông C cũng không đồng ý sang Việt Nam để sinh sống với bà N nên vợ chồng đổ lỗi cho nhau và phát sinh mâu thuẫn. Ông Chen Chien C đề nghị ly hôn và không còn quan tâm đến bà N nữa. Nay cả hai đều nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, ông C cũng đã có văn bản đồng ý ly hôn nên bà N đề nghị Tòa giải quyết cho bà N được ly hôn với ông C. Về con chung và tài sản, cả hai bên đều không yêu cầu Tòa giải quyết[17]”.

   Phương pháp xung đột được xem là “phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế vì phát sinh từ quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài xuất phát từ nguyên tăc bình đẳng, chủ quyền giữa các quốc gia, có nhiều hệ thống pháp luật cùng được áp dụng nên phải chọn luật áp dụng[18]”.

   Tiểu Luận Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật phương pháp xung đột là “phương pháp điều chỉnh gián tiếp vì dựa vào các quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột không trực tiếp điều chỉnh nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy phạm xung đột chỉ làm bước trung gian là chỉ ra hệ thống pháp luật được áp dụng[19]”.

   – Ưu và nhược điểm của phương pháp xung đột

    Về ưu điểm: “Việc xây dựng các quy phạm xung đột thuận lợi, dễ dàng nên số lượng các quy phạm nhiều, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh. Qua đó tranh được những tranh chấp giữa các quốc gia gây bất ổn đến quan hệ giữa các nước với nhau, quan trọng nhất là điều hòa được lợi ích giữa các quốc gia[20]”.

“ Mang tính khách quan cao, tạo tâm lý tự tin, an tâm hơn khi tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc xây dựng các quy phạm xung đột có một ý nghĩa quan trọng trong tư pháp quốc tế hiện nay[21]”. Ví dụ: “về độ tuổi kết hôn: ở Việt Nam là 18 tuổi với nữ, 20 tuổi với nam, nhưng ở Trung Quốc thì tuổi này là 20 và 22, còn ở Pháp là 16 và 18, riêng nước Anh thì cả nam và nữ đều là 16. Do đó, việc thừa nhận quy phạm xung đột là công cụ chủ yếu để thiết lập và bảo đảm một trật tự pháp lý trong quan hệ pháp luật dân sự quốc tế. Chính vì thế, phương pháp xung đột được sử dụng cả ở các nước theo hệ thống luật thực định” (VD: các nước châu Âu lục địa như Đức, Pháp…), cũng như ở các nước theo hệ thống luật thực hành (VD: Anh, Pháp…).

Nhược điểm:  “Vì pháp luật của các nước có những quy định khác nhau, việc sử dụng quy phạm xung đột để giải quyết xem ra là giải pháp tốt nhất. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và riêng biệt của quy phạm xung đột mà vẫn có những trường hợp Tòa án không chọn được luật thực chất để áp dụng bởi chưa có quy phạm xung đột trong lĩnh vực đó. Lúc này Tòa án cần xem xét hệ thống luật pháp của nước mình để tìm ra các quy định cần thiết để giải quyết vụ việc[22]”.

“Khi xem xét nội dung của phương pháp xung đột ta thấy rất trừu tượng, đòi hỏi phải có chuyên môn sâu trong lĩnh vực pháp luật mới có thể hiểu được đầy đủ. Trong khi đó, đội ngũ chuyên gia luật không phải ở nước nào cũng giỏi mà vấn đề áp dụng quy phạm xung đột lại phức tạp. Vì vậy, dễ xảy ra tính chất không nhất quán đối với một vụ việc nếu giải quyết ở Tòa án có thẩm quyền tại các nước khác nhau, dẫn đến việc các bên khi ký kết các hợp đồng cần phải thấy trước luật của nước nào sẽ có khả năng áp dụng hoặc phải chọn sẵn luật nước nào để áp dụng cho quan hệ đó[23]”.

Phương pháp xung đột được “áp dụng trong hệ thống luật Anh – Mỹ còn phức tạp hơn nhiều. Ở đây, Tòa án có thẩm quyền rất rộng, còn các quy phạm xung đột lại được hình thành trên cơ sở án lệ – thực tiễn tòa án và trọng tài. Điều này dẫn đến rất nhiều khả năng xảy ra trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại trong quan hệ hợp đồng mà các bên khi tham gia các quan hệ đó không thể lường trước được[24]”.

3. Mối quan hệ giữa giải quyết xung đột và áp dụng pháp luật có yếu tố nước ngoài

   Trong Tư pháp quốc tế, “khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, chúng ta sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần giải quyết. Thông thường, việc định hình hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần điều chỉnh khá dễ dàng. Ví dụ: Pháp luật có quan hệ mật thiết với tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng thường là pháp luật nơi thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, đối với một quan hệ phức tạp, có quan hệ gắn bó với nhiều hệ thống luật khác nhau thì khi chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh, chúng ta không nên bỏ qua những bản chất cốt yếu của quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài đó[25]”.

  Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài: “khi quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến luật nước ngoài; khi quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu đến luật nước ngoài; khi hai bên thống nhất áp dụng luật nước ngoài; khi cơ quan có thẩm quyền xác định luật nước ngoài là hệ thống pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất[26]”. Xuất phát từ các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là “các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nên khi giải quyết các quan hệ này nếu không có các quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh thì các cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải dùng các quy phạm xung đột cũng là thừa nhận khả năng có thể áp dụng pháp luật nước ngoài ở một mức độ nhất định được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới[27]”. Tại Việt Nam việc áp dụng luật nước ngoài được quy định cụ thể tại điều 481 Bộ luật dân sự năm 2015 và  Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã quy định: “Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì phải áp dụng theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó[28]”.

Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật
Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật

Kết Luận Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế

Tư pháp quốc tế là “ngành luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tức là trong quan hệ đó có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, cá nhân, tổ chức là người nước ngoài, cá nhân người Việt Nam định cư tại nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cá nhân, tổ chức, người Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, chấm dứt, thay đổi quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; phát sinh tại nước ngoài hoặc liên quan đến quan hệ đó tại nước ngoài[29]”.

Xuất phát từ “nguyên tắc tự do thỏa thuận trong các quan hệ dân sự, pháp luật các nước đều thừa nhận luật áp dụng cho nội dung quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài do các bên tham gia quan hệ thỏa thuận lựa chọn. Dĩ nhiên, sự lựa chọn này phải đáp ứng điều kiện do chính hệ thống pháp luật  do các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận lựa chọn[30]”.

Tiểu Luận Môn Tư Pháp Quốc Tế Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật là toàn bộ bài tiểu luận với những nội dung đa dạng và phong phú mà mình đã chọn lọc và đồng thời liệt kê đến cho các bạn cùng xem và theo dõi, và các bạn có thể hoàn toàn yên tâm và đây là một trong những nguồn tài liệu đã được chọn lọc kĩ càng cho nên các bạn có thể dựa theo những nội dung trên đây để tự triển khai bài tiểu luận của mình trong thời gian sắp tới. Ngoài ra, nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm bài tiểu luận nhưng chưa có cách để giải quyết được thì hãy tìm đến ngay dịch vụ nhận làm tiểu luận luật của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài tiểu luận trọn gói và mình sẵn sàng lựa chọn cho các bạn một đề tài cụ thể chất lượng hơn bao giờ hết.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

 

[1] Nguyễn Bá Chiến (2009), Cơ sở lý luận và thực hiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xing đột ở Việt Nam, Luận án tiên sĩ Luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr.2.

[2] Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân.

[3] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam.

[4] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.50

[5] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.50.

[6] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.52.

[7] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.52.

[8] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.55

[9]Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.55.

[10] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.55.

[11] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.54

[12] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.54.

[13]Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.63

[14] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.63

[15]Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.63.

[16] Phạm Thị Hồng My (2019), “Quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế thông qua vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, truy cập tại trang https://www.tapchitoaan.vn/ , ngày truy cập 05/01/2022.

[17] Phạm Thị Hồng My (2019), “Quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế thông qua vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, truy cập tại trang https://www.tapchitoaan.vn/ , ngày truy cập 05/01/2022.

[18] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.64.

[19] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.64.

[20] Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên (2007), Vai trò của hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế liên hệ tư pháp quốc tế việt Nam, trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr.5.

[21] Trường đại học luật Hà Nội (2012), giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.40.

[22] Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên (2007), Vai trò của hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế liên hệ tư pháp quốc tế việt Nam, trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6

[23] Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên (2007), Vai trò của hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế liên hệ tư pháp quốc tế việt Nam, trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6

[24] Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên (2007), Vai trò của hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế liên hệ tư pháp quốc tế việt Nam, trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6

[25] Nguyễn Bá Chiến (2009), Cơ sở lý luận và thực hiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam, Luận án tiên sĩ Luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr.2.

[26] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.65.

[27] Trường Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, tr.65.

[28] Điều 667 Bộ luật dân sự năm 2015.

[29] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam

[30] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.6.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*