Download Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam, 9 điểm

Rate this post

Download Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam, 9 điểm, Làm sáng tỏ những nội dung của pháp luật phong kiến Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử; đánh giá những tồn tại, hạn chế và bài học kinh nghiệm đối với hoàn thiện pháp luật phong kiến Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Lời Mở đầu Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam

1. Lý do chọn đề tài

Như tác giả Vũ Văn Mẫu đã viết, “những trang Cổ luật Việt Nam chính là những trang sử vinh quang ghi chép sức sống dũng mãnh của các chế độ gia đình và xã hội, cũng như các phong tục lành mạnh của dân tộc mà chúng ta cần phải tìm hiểu[1]”.việc nghiên cứu, kế nối những giá trị đương đại của pháp luật phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ chắc chắn sẽ góp phần tích cực, tạo điều kiện cho việc phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả giáo dục, thực thi pháp luật, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam gắn liền với quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng mô hình chính quyền quân chủ chuyên chế. Quá trình đó, dù ở những mức độ khác nhau, đều có sự hiện diện của pháp luật. Vai trò của pháp luật đều được các triều đại phong kiến Việt Nam đề cao và coi trọng[2]. Pháp luật trong thời kì phong kiến luôn giữ một vai trò quan trọng giúp các nhà dân chủ điều hành đất nước. Tuy có sự ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo song pháp luật phong kiến Việt Nam vẫn có những sáng tạo riêng và đậm chất nhân văn. Những đặc điểm của pháp luật phong kiến Việt Nam đều chứa đựng trong đó những nguyên nhân sâu sa trong tiến trình phát triển của lịch sử dựng nước và giữ nước vì thế chúng có những ưu và nhược điểm riêng, nhưng những giá trị của nó để lại cho thế hệ sau là điều không thể phủ nhận. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, việc nghiên cứu, vận dụng những tinh hoa văn hóa của pháp luật trên thế giới, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài nhưng phải giữ nét văn hóa dân tộc tạo nên bản sắc của dải đất hình chữ S thiêng liêng. Xuất phát từ ý nghĩa đó, pháp luật phong kiến đã trở thành đối tượng nghiên cứu khá sớm của nước ta cũng. Chính vì thế, chủ đề “Pháp luật phong kiến Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Đây là bài tiểu luận được dịch vụ viết thuê luận văn luật hoàn thành vào năm 2022, bài làm hoàn thiện 10 trang cho các bạn sinh viên dùng tham khảo khi viết tiểu luận nhé

Nội dung chính Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam

1. Lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam

1.1. Pháp luật Việt Nam từ khi hình thành cho đến thế kỉ thứ X (năm 938)

Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Xét về phương diện khách quan, nhà nước và pháp luật cùng phát sinh từ một nguồn gốc là kết quả của sự phát triển kinh tế và phân hóa xã hội. Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và trở thành phương diện chủ quan, pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và trở thành phương diện của nhà nước để bảo vệ địa vị của lực lượng thống trị điều hành quản lý xã hội. Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thủy trước đây, quan hệ giữa các thành viên được điều chỉnh bằng phong tục tập quán. Đến giai đoạn nhất định, tập quán đó đã không còn phù hợp nữa[3]. Khi Nhà nước được hình thành, các quốc gia được xác lập, các quan hệ xã hội phát triển cả về phạm vi, mức độ và tính chất thì phong tục, tập quán không còn có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội. Đến giai đoạn nhất định, khi tập quán đó không còn phù hợp nữa. Khi Nhà nước được hình thành, các quốc gia được xác lập, các quan hệ xã hội phát triển cả về phạm vi, mức độ và tính chất thì phong tục, tập quán không còn có khả năng để điều chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội. Để đáp ứng nhu cầu khách quan đó, một loại quy phạm mới, khác hẳn phong tục tập quán ra đời, đó là pháp luật. Theo đó, vào cuối thời đại Hùng Vương, Nhà nước xuất hiện thì đương nhiên pháp luật cũng ra đời từ đó. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Thế kỉ I, sau khi đàn áp được khởi nghĩa Hai Bà Trưng, viên tướng Hán là Mã Viện tâu lên vua Hán Quang Vũ (Trung Quốc) rằng: “Luật Việt khác luật Hán hơn mười điều” (Hậu hán thư). Luật Việt đó chắc chắn phải có trước thời Bắc thuộc, tức là thời Văn Lang – Âu Lạc như sau:

– Pháp luật tập quán: Tập quán pháp giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất. Trước hết đó là một số tập quá vốn có từ thời nguyên thủy và được bảo đảm thực hiện không chỉ bằng sự tự nguyện mà cả bằng biện pháp cưỡng chế quyền lực Nhà nước. Tập quán pháp này điều chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội như quan hệ sở hữu, chiếm hữu và sử dụng ruộng đất, các loại quan hệ về trật tự an toàn xã hội… Loại tập quán thứ hai từ trước đến nay ít được nhắc tới là tập quán chính trị, được hình thành trong quá trình vận hành bộ máy Nhà nước và điều hành xã hội, như tập quán truyền ngôi của vua và các chức quan cho con cái, tập quán công nạp, “ăn ruộng[4]”…

– Pháp luật khẩu truyền: ý chí của người thống trị đối với xã hội nhiều khi được ban ra bằng miệng và không được ghi bằng văn bản. Những mệnh lệnh đó được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nên đó là luật pháp[5].

– Pháp luật thành văn: Mặc dù hiện nay vẫn chưa rõ thời đại Hùng Vương đã có chữ viết hay chưa, nên cũng chưa biết hay chưa, nên cũng chưa biết là thời bấy giờ pháp luật do bộ máy cai trị ban bố hay không.

Về nội dung pháp luật của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc cũng chỉ phản ánh một cách gián tiếp, mơ hồ trong truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, trong đó, giữa luật lệ và phong tục tập quán còn chưa được phân định rõ nét. Tuy nhiên, qua các truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ có thể thay một số loại quan hệ cơ bản trong xã hội đã được pháp luật điều chỉnh như:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình và chế độ hôn nhân một vợ chồng, các truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Trầu cau… cho thấy, hôn nhân được cử hành qua hôn lễ, con gái được cưới về nhà chồng và cũng đã có việc thách cưới, người con gái cũng có vai trò trong hôn nhân và vẫn được tôn trọng trong gia đình… Về quan hệ tài sản, qua tài liệu khảo cứu về mộ tầng, người chết cũng được chia tài sản, điều đó chứng tỏ người sống khi ra ở riêng đã được phân chia tài sản. Quan hệ sở hữu ruộng đất, ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung của cả công xã, còn các thành viên chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng. Về hình phạt, người phạm trọng tội có thể bị phạt lưu đày, sau khi thụ hình xong, có thể được phục hồi quyền lợi hoặc có thể bị giết chết…

Tóm lại, Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc đã có pháp luật nhưng đó là hình thức pháp luật sơ khai và chủ yếu là tập quán pháp, còn mang đậm tàn dư của chế độ nguyên thủy và như Việt sử được nhận xét, đó là xã hội có “phong tục thuần hậu chất phác”.

1.2. Pháp luật giai đoạn chống đồng hóa của phong kiến Trung Quốc

  1. Pháp luật dưới thời bị đô hộ của phong kiến Trung Quốc

– Về luật hình: Theo thu lịch cổ, những lãnh tụ nghĩa quân đều bị chính quyển đô hộ khép lội phản loạn. phản nghịch. Hình phạt phố biến cua tội là tử hình hoặc lưu đày. Trong cuộc đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, ngoài số thủ lĩnh bị giết. hon 300 quý tộc Lạc Việc bị đày sang Linh Lãng (Hổ Nam Trung Quốc ngày nay). Trước đó, để đàn  áp các cuộc nổi dậy cùa nhân dân Âu Lạc. Triệu Đà áp dụng những hình phạt như cắt mũi. thích chữ vào mặt[6]. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Đối với những tội phạm về chức vụ Luật Giao Châu quy định cụ thể về vấn đề này. Nhà nước phong kiến Trung Hoa thi hành chính sách độc quyền các sản vật quý ở “thuộc quốc” như cấm tư nhân mua bán, tàng trữ. Trong nhóm tội về kinh tế, những hành vi buôn bán muối, sắt hoặc làm muối trái phép đều bị coi là tội phạm vì đã xâm phạm độc quyền đến muối, sắt của chính quyền đô hộ.

– Luật lệ dân sự và về tài chính: trong thời Bắc Thuộc, chế độ sở hữu ruộng đất có 2 hình thức sở hữu. Sở hữu tối cao của Hoàng đế Trung Quốc (sở hữu Nhà nước) và sở hữu tư nhân.

– Luật lệ về hôn nhân và gia đình: từ thời Đông Hán, chính quyền đô hộ đã buộc dân Việt trước khi kết hôn phải theo luật lệ Hán, kết hôn phải theo hạng tuổi (trai từ tuổi 20 – 50, gái từ 15 – 40) và phải có đồ sính lễ…Tuy nhiên, chỉ có người Hán mới theo Luật lệ hôn nhân và gia đình còn có người Việt vẫn theo phong tục tập quán của mình.

  1. Luật pháp của chính quyền tự chủ thế kỉ X và sự kết thúc bắc thuộc

Sau thất bại của nhà nước Vạn Xuân, cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc vẫn ngày càng phát triển, tiêu biểu là các cuộc khỏi nghĩa Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Thanh. Đến cuối thế kỉ IX đầu thế kỉ X phong trào giải phóng dân tộc đã trưởng thành một bước mới cả về ý thức độc lập dán tộc và tinh thẩn đoàn kết. Lúc này triều đình Trường An suy yếu, nạn cát cứ của các lập đoàn phong kiến ngày càng lan rộng. Đó là những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân chuyển sang bước ngoặt dành độc lập dân tộc vững chắc.

– Chính quyền họ Khúc (905 – 930): Khúc Hạo thực hiện đường lối chính trị thân dân. Ông sửa đổi lại chế độ thuế khóa và lao dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục tiên biên họ Khúc đã “bãi chế độ thuế khoá và lao dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Chính sự cốt khoan dung, giản dị, nhân dân yên vui”. Với chính sách đó của Khúc Hạo, chính quyền được củng cố một bước.

1.3. Pháp luật phong kiến Việt Nam (giai đoạn 938 – 1884)

Giai đoạn này gồm các triều đại như Triều Ngô (938 – 965), triều Đinh (968 – 980), triều Tiền Lê (980 – 1009), triều Lý (1010 – 1225), triều Trần (1225 – 1400); Triều hồ (1400 – 1407), triều Hậu Lê (1428 – 1789), triều Mạc (1527 – 1592), triều đại Tây Sơn (1778 – 1802), Triều Nguyễn (1802 – 1884).

Thứ nhất, pháp luật giai đoạn này thể hiện sự hòa đồng giữa phá p luật và đạo đức Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Được xây dựng và phát triển trẽn nền tảng tư tưởng Nho giáo – học thuyết chính trị-đạo đức. pháp luật phong kiến Việt Nam đã thể chế hóa đạo luân thường thành các quv định nghiêm ngặt. Những vi phạm các chuẩn mực đạo đức trong gia đình. trong xã hội đều là những vi phạm pháp luật và đều bị nghiêm trị. Chế định Thập ác tội là ví dụ điên hình. Tuy nhiên, ở mức độ nhất định. pháp luật phong kiến Việt Nam vẫn có sự phân định ranh giới giữa phạm vi điều chỉnh cua pháp luật và phạm vi điêu chỉnh của đạo đức. Ví dụ, khoản 7 điều 2 Quốc triều hình luật quy định hành vi trái lời cha mẹ dạy bảo nuôi nấng thiếu thốn là phạm tội bất hiếu trong Thập ác tội nhưng điều 506 Quốc triều hình luật lại quy định hành vi đó phải đến mức độ ông bà cha mẹ không thể chịu đựng được khi trình quan thì mới bị pháp luật trừng phạt.

Thứ hai, pháp luật phong kiến Việt Nam thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lễ và luật. Là một nguồn hình thành nên pháp luật phong kiến Việt Nam những lễ nghi Nho giáo trong phạm vi chinh trị quốc gia. xã hội và gia đinh đều được luật hoa. Tuy nhiên, việc lồng ghép lễ nghi vào luật pháp rất linh hoạt để đảm bào pháp luật không xung đột với phong tục tập quán cùa cư dân Đại Việt, nhất là trong các quan hệ hôn nhân-gia đình. Ví dụ: Theo lễ nghi Nho giáo, nguyên tắc ứng xử giữa vợ và  chồng trong gia đình là phu xướng phụ tùy nhưng luật nhà Hậu Lê vẫn thừa nhận người vợ có quyền về tài sản trong gia đinh (các điều 374. 375, 376 Quốc triều hình luật) nên cũng là đồng chủ thể giao dịch về tài sản lớn của gia đình.

Thứ ba, pháp luật phong kiến Việt Nam thể hiện sự kết hợp giữa luật và lệ

Lệ đã có từ thời các công xã thị tộc, trước khi có nhà nước và pháp luật. Khi Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc ra đời, lệ của các công xã nông thôn là bộ phận chủ yếu cấu thành hệ thống pháp luật lập quán của Nhà nước. Trong thời kì Bắc thuộc, do chính sách “dĩ ki cô tục trị”, lệ làng vẫn là một bộ phận cùa hệ thống pháp luật của chính quyền đô hộ. Vào thời ki phong kiến độc lập. các triều đại đều mặc nhiên thừa nhận lệ làng và đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã ban hành một lệnh chỉ nhằm kiềm soát và hạn chế lệ làng. Lệ làng được bảo đàm thực hiện cả bằng sự cưỡng chế của chính quyền, do đó đã trở thành một bộ phận cùa hệ thống pháp luật Đại Việt. Theo nhiều kết quả nghiên cứu, lệ làng được văn bản hóa từ thế kỉ XV (thương ước).

Là một bộ phận cua luật nước, lệ làng đã hỗ trợ cho luật nước lấp những khoảng trông trong việc điều chinh các quan hệ xã hội ở làng xã mà luật nước không thể hoặc chưa thể với tới được. Ở một số lĩnh vực, lệ làng còn là công cụ để đảm bảo cho luật nước được tuân thủ một cách đầy đủ. Ví dụ, trong lĩnh vực thuế khóa, bắt phu, bắt lính, đó chính là mặt thống nhất giữa lệ làng và luật nước.

Mặt khác, lệ làng cũng có sự đối lập với luật nước. Lệ làng được coi như là “bộ luật” riêng của làng, luật nước khi tác động tới làng xã thường bị khúc xạ bởi lệ làng. Sự đối lập giữa lệ làng và luật nước đã được cô đọng trong thành ngữ “phép vua thua lệ làng”. Vì thế, các triều đại thường tìm cách hạn chế sự phát triển và phạm vi điều chỉnh của lệ làng, nhất là từ thời vua Lê Thánh Tông.

Mặc dù lệ làng có tính pho biến trong văn hóa quản lí ở các nước thuộc khu vực Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… nhưng ở Việt Nam, do đặc điểm địa-lịch sử-văn hóa mà sự có mặt của lệ làng trong hệ thống luật nước đã làm đậm đà thêm tính dân tộc đặc sác của hệ thống pháp luật hướng Nho Đại Việt. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Thứ tư, về quy trình và kĩ thuật làm luật

Sáng kiến lập pháp không chỉ thuộc về nhà vua mà các quý tộc quan lại đều có thể tấu trình vua cho xây dựng và ban hành những luật lệ cân thiết. Vua là người duy nhất có quyền định ra luật pháp nhưng thường không phải là người trực tiếp soạn thảo.

Những nhà làm luật phong kiến thường đi vào quy định có tính chi tiết mà không nêu ra những khái niệm pháp lí, những nguyên tắc pháp lí. Ví dụ, quy định về tội trộm cắp, không nêu khái niệm thế nào là tội trộm cắp nói chung mà đi vào quy định cụ thể ngay như như trộm cắp 1 con trâu thì bị phạt thế nào, trộm 2 con trâu thì bị phạt ra sao…

Chế tài trong các quy phạm pháp luật, dù trong lĩnh vực hình sự,  các lĩnh vực hành chính, dân sự, ruộng đất, hôn nhân và gia đình… đều phổ biến là chế tài hình sự. Chinh vì vậy, các nhà làm luật phong kiến. về cơ bản. chưa có khái niệm phân chia pháp luật thành các ngành luật như ơ thời cận hiện đại sau này.

Đặc trưng nổi bật khác trong kĩ thuật làm luật là tính bảo thủ. Nhà làm luật phong kiến coi các bộ luật đã được ban hành từ các triều vua trước như khuôn vàng thước ngọc. Nhiều điều luật cũ thường được chép lại như bộ luật mới hoặc theo đúng nguyên văn nhưng chỉ thay đổi chút ít đi.

Xem thêm ===>  Tiểu luận pháp luật về quyền được chăm sóc sức khoẻ của người lao động

Xem thêm ===>  Tiểu Luận Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Tại Xã Lộc Quang

Xem thêm ===>  49 Đề Tài Luận Văn, Tiểu Luận, Khóa Luận Ngành Luật Tố Tụng Dân Sự

1.4. Pháp luật Ngô, Đinh, Tiền Lê giai đoạn củng cố nền độc lập dân tộc và bắt đầu xác lập Nhà nước Trung ương tập quyền

Pháp luật thê ki X là nền pháp luật sơ khai của nhà nước tự chủ còn đơn giản, sơ sài và phiến diện. Pháp luật lúc này chưa thể phát triển được vì các vương triều tập trung cho việc bình định chống cát cứ và chống ngoại xâm là chính, chưa có điều kiện bỏ nhiều công sức cho việc xây dựng pháp luật.

Chắc chắn thời kì này đã có luật phát thành văn. Bởi người Việt đã tiếp thu chữ Hán thời Bắc thuộc, đến thế kỉ X, tầng lớp đông đảo người có chữ nghĩa chính là vua quan quý tộc, sư sãi, nho sĩ. Bên cạnh một số luật pháp thành văn, trong quá trình điều hành và quản lý Nhà nước, đã hình thành những tập quán chính trị. Từ thời Đinh trở đi, các hoàng đến thường phong tước vương cho những người con trai của mình và trong số đó, có một số hoàng tử được cát cứ đi trấn giữ, cai quản một số vùng quan trọng của đất nước.

Những luật pháp thành văn và tập quán chính trị chủ yếu xác lập và điều chỉnh một số lĩnh vực quan trọng, cấp bách như quản chế, quân sự. Ngoài luật pháp của triều đình, luật tục vẫn giữ vai trò rất quan trọng và rộng khắp trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội. Đó là những lệ oài luật pháp cùa triều đình. luật tục vân giữ vai trò rất quan trọng và rộng khắp trong việc điều chỉnh nhiêu quan hệ xã hội. Đó là nhũng lệ của các làng xã cổ truyền. Những lệ này có hiệu lực không gian rộng khắp là các làng xã và chủ vết! điều chỉnh các quan hệ trong các lĩnh vực ruộng đất. Người dân làng xã bấy giờ chủ yếu sống theo lệ, chứ ít bị luật pháp của triều đình chi phối.

Về tính chất của pháp luật thế kỉ X, căn cứ vào một số hiện tượng ghi trong sử sách nhiều người xưa nay cho rằng, luật pháp Ngô, Đinh, Tiền Lê mang tính chất hà khắc và tàn bạo. Trong thối cổ trung đại ờ các nước không thiếu những hiện pháp hình sự dã man tàn bạo nhưng phải xem xét  nó trong những hoàn cảnh cụ thể những đối tượng cụ thể thì mói đánh giá được đúng. Nước Đại Cổ Việt vừa mới dựng lên ki cương chưa đấy đủ trật tự xã hội chưa ổn định các thế lực cát cứ thường xuyên chống đối quyết liệt vương quyền, nên Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành phái dùng đôn những hiện pháp khác nghiệt đế thị uy, trừng trị những thế lực chống đối, chứ không áp dụng đối với toàn dân. Những hành vi xử xự tàn ác của Lê Long Đĩnh chỉ có thể lối sóng hiểu sát, tư cách bất nhân tự phát, tùy tiện của một hôn quân vô đạo, chứ khó có thể là pháp luật thành văn.

Hơn nữa, trong pháp luật nói chung, bộ phận lệ làng vẫn chiếm tỉ trọng lớn cả về số lượng, đối tượng điều chỉnh, hiệu lực và hiệu quả vẫn bảo lưu những truvền thống dân chù có từ xa xưa. Trước nhu cầu chống ngoại xâm, chống thiên tai nhất là nhu cầu bình định các thế lực cát cứ, nên các vương triều Ngô, Đinh, Tiền, Lê không thể không tranh thù sự ủng hộ của các làng xã, không thế không kẽ thừa quốc sách của họ Khúc trước đó là “Chính sự cốt chuộng khoan dung? giản dị, nhân dân được yên vui”. Nói cách khác, do điều kiện khách quan, mối quan hệ giữa nhà nước và công xã bấy giờ là một thứ quan hệ lưỡng hợp. Nhà nước vừa có mặt đối lập với công xã, thế hiện ở sự bóc lột các thành viên công xã qua công xã và coi công xã như đơn vị bóc lột vừa phải có mặt đại diện cho công xã thể hiện những lợi ích chung của công xã và nhà nước, về mặt này nhà nước như “người cha của số đông công xã” (nói theo cách gọi của C. Mác). Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Bởi vậy, pháp luật của Nhà nước đối với các thế lực cát cứ, chống đối thì phải khắc nghiệt, với dân chúng phải “khoan dung giản dị, nhân dân được yên vui”.

Trong giai đoạn này đặc điểm của pháp luật có những đặc điểm đó là

– Đó là nhà nước và nền pháp luật tự chủ với chức năng hàng đầu của Nhà nước chống ngoại xâm, bình định các thế lực cát cứ và nhà nước trung ương tập quyền.

– Pháp luật còn đơn sơ chưa chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo. Nhà nước và pháp luật thể hiện tính chất bạo lực, hà khắc, vừa thể hiện sự khoan dung và dựa trên nền tảng cơ sở là công xã nông thôn đang phát triển, chưa có dấu hiệu suy thoái, hà khắc.

1.5. Pháp luật các triều đại Lý, Trần, Hồ trong giai đoạn củng cố và phát triển Nhà nước trung ương tập quyền

Nhận xét về tình hình pháp luật thời kì này, Phan Huy Chú viết: “hình phạt các đời Lý, Trần không thể biết rõ từng điều tỉ mỉ kĩ càng… Nay lục những điều này đã thấy trong sử, lần lượt chép ra có thể được đại khái[7]”.

Pháp điểm hóa các luật – bộ luật

Công trình pháp điển hóa của triều Lý là bộ Hình thư, được ban hành năm 1042 dưới thời vua Lý Thái Tông. Việc ra đời bộ hình thư, Đại Việt sử kí toàn thư ghi: “Ban hình thư, trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan tại giữ luật pháp trong nước luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt thêm, thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích ứng với thời thế, chia ra môn loại, biến thành điều khoản, làm thành sách hình thư của một triều đại để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện”.

Theo Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí – Vãn tịch chí), bộ Hình thư có 3 quyển. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên cùa nước ta đánh dấu thành tựu to lớn trong lịch sử pháp luật Đại Việt. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Dưới triều Trần, lịch triều hiến chương hoại chí ghi: năm 1230, Trần Thái Tông soạn sách Quốc triều hình luật, khảo định các lệ đời trước để làm “Đại Việt sử kí toàn thư”. Như vậy, Đại việt sử kí toàn thư cho biết triều trần có 3 lần soạn thảo hình luật vào các năm 1230, 1244, 1341 còn Lịch triều chí ghi có 2 lần vào các năm 1230, 1244, 1341 còn Lịch triều chỉ ghi có 2 lần vào các năm 1230, 1244. Vậy phải chăng triều Trần có tới 2,3 bộ hình luật. Cả hai cuốn sử cũ đáng tin cậy nhất ở trên đều ghi lần thứ  2 (1244) chỉ là “định những cách vẽ hình luật” hoặc “những điều về luật” chứ không có danh từ bộ luật. Có lẽ triều Trần chỉ có một bộ hình luật, bộ luật này được sửa đổi nhiều lần, bởi vậy không xác định được cụ thể năm ra đời của nó[8].

Cũng theo Đại Việt sử kí toàn thư, dưới triều hồ vào năm 1401 “Hán Thương định quan chế và hình luật của nước Đại Ngu”. Hình luật này được bộ luật mới hay chỉ là sự sửa đổi, bổ sung Hình thư đời Trần thì sử cũ không ghi rõ. Cả hai bộ hình thư thời Lý và thời Trần đều là những bộ luật tổng hợp chứ không phải là luật và đều đã bị thất truyền.

Tập hợp hóa pháp luật – các luật lệ

Theo Đại Việt sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương hoại chí, Việt sử thông giám cương mục, dưới triều Trần, ngoài bộ hình thư còn có: Quốc triều thông chế (1230) gồm 20 quyển, nội dung quy định về tổ chức quan lại và quy chế hành chính; Quốc triều thường lễ (1230) gồm 10 quyển; Hoàng triều đại điển (1341), Hoàng triều ngọc diệp (1267), Công văn cách thức (1290). Hiện nay có một số quan điểm coi những văn bản pháp luật trên là các bộ luật. có người còn cho rằng Quốc triều thông ché là hình thư song thực ra. chúng chỉ là những tập luật lệ – két quả của hoạt động tập hợp hóa những văn bản pháp luật đơn hành. Những tập luật lệ trên chủ yếu điều chỉnh lĩnh vực tổ chức nhà nước và hành chính trong khi đó theo thông lệ của pháp luật phong kiến bộ luật thường có tính tổng hợp điều chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội. Đương thời, ở Trung Quốc đã có các tập hội điển (như Đại Đường hội điển, Đại Tòng hội điển…). Một số tập luật lệ trên của triều Trần có thể tạm coi là hình thức hội điển. Những tập luật lệ trên cũng đã thất truyền.

Văn bản đơn hành – các đạo chiếu, lệnh

Ngoài hai bộ luật và một số tập luật lệ, các vua Lý, Trần còn ban hành nhiều đạo chiếu, lệnh, trong đó có một số đạo chiếu quan trọng đã được sử cũ ghi lại.

Những quy định trong lĩnh vực hình sự

Thứ nhất, một số nguyên tắc chung

– Nguyên tắc mọi vi phạm pháp luật đều bị trừng trị bằng hình phạt: Một đặc điểm của pháp luật phong kiến nói chung là các vi phạm pháp luật đều bị trừng trị bằng chế tài hình sự. Trong 27 chiếu lệnh có quy định áp dụng hình phạt trong số các chiếu lệnh đã thông kê dưới thời Lý, Trần thì có 17 vi phạm thuộc lĩnh vực hình sự, 5 vi phạm thuộc lĩnh vực dân sự, 2 vi phạm thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia  đình, còn lại là những vi phạm thuộc lĩnh vực quản lí hành chính và các lĩnh vực khác. Như vậy, mục đích cùa pháp luật là trừng trị.

– Nguyên tắc chuộc hình phạt bằng tiền Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam
Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam

Nguyên tắc này được áp dụng với một số loại người (người già, ốm đau, tàn lật, trẻ em) và với các loại lội (trừ tội thập ác). Chiếu năm 1071 quy định tiền chuộc lội theo thứ bậc khác nhau. Chiếu hạn điền năm 1398 cho phép dùng ruộng đất chuộc tội. Nguyên tắc này phẩn nào thê hiện tư tướng nhãn đạo của pháp luật Lý, Trần, Hồ nói riêng và luật pháp phong kiến nói chung.

– Nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự liên đới

Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự liên đới là quan hệ gia đình hoặc quan hệ láng giềng. Luật nhà Trần quy định trộm cắp lần đầu bị đánh 80 trượng, thích chàm vào mật hai chữ “phạm đạo”, đến 9 lần tài sán trộm cắp, nếu không đến được thì bắt vợ con sung làm nô tì, tái phạm chặt chân tay, phạm lần ba bị giết. Các đạo chiếu 2/1043, 1117, 1123, 1142 thể hiện cụ thể nguyên tắc trên.

Thứ hai, hình phạt bao gồm: ngũ hình, bậc nặng, bậc nhẹ, các hình phạt khác (phạt tiền, thích chữ vào thân thể, chặt chân, tay, tịch thu tài sản, biếm chức (hạ chức) hoặc cách chức, tước bỏ họ, quốc tính.

Thứ ba, tội phạm

Các đạo chiếu và các vụ việc được ghi trong sử cũ cho biết luật pháp thời Lý, Trần, Hồ đã quy định một số loại tội sau đây: tội thập ác (chiếu 11/1042), nhóm tội cấm vệ, nhóm tội về chức vụ, nhóm tội về quân sự, nhóm tội giết người, nhóm tội về đánh người, nhóm tội trộm cướp, trộm cắp, nhóm tội thông gian.

Tham khảo ==> giá viết thuê tiểu luận chất lượng

Những quy định trong lĩnh vực dân sự

Các đạo chiếu, lệnh và các chính sách ruộng đát của nhà nước phong kiến Lý, Trần, Hổ dược sử sách ghi chép cho thấy, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật nước ta, các ván đề sở hữu và hợp đồng đã được pháp luật quy định.

Những quy định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Những quy định của pháp luật Lý, Trần về lĩnh vực hôn nhân và gia đình còn lại rất ít ỏi. Các đạo chiếu tháng 2/1 128. thám: 4/1 130 quy định cám két hôn giữa gia nô của các quan, các vương hầu, công chúa với chức quan và lương dân. Dưới đời Trầ do ảnh hưởng của Nho giáo nên một số quy định cũng có chế độ gia đình phụ quyền gia trưởng.

Qua nghiên cứu có thể rút ra những đặc điểm của pháp luật thời này như sau:

Thứ nhất, mức hình phai được quy định chưa tương xứng với hành vi và hậu quả phạm tội. Chiếu tháng 12/1142 quy định cả tội đánh chết hay làm bị thương người đều bị phạt 80 trượng, xử tội đó. Chiếu 1125 quy định đánh người đến chết đày làm khao giáp, đánh 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ nhưng không phân biệt hành vi phạm tội là cố ý hay vô ý. Thời Trần quỵ định giết người phải đền mạng: tái phạm tội trộm lần 2 bị chặt chân tay, phạm đến lần thứ ba bị giết, có khi bằng hình thức cho voi giày. Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Thứ hai, pháp luật chú trọng tới điều chỉnh các quan hệ kinh tế thiết yếu giữa các cá nhân và bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Xây dựng đất nước, xây dựng chế độ trung ương tập quyền trong điều kiện đất nước vừa thoát khỏi thời kì Bắc thuộc và luôn đứng trước nguy cơ ngoại xâm trực tiếp đe dọa, các vương triều Lý – Trần thấy được quy luật dân giàu, nước mạnh.

Thứ ba, pháp luật thời kì này thể hiện tinh thần dân tộc độc lập, tự chủ

Do điều kiện lịch sử, pháp luật các vương triều Lý, Trần chịu ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Hoa, nhất là trong lĩnh vực hình sự và hành chính, lễ nghi. Nhưng trong nhiều quy định về tổ chức, về dân sự thể hiện tinh thần độc lập dân tộc và sự tự chủ. Các đạo chiếu quy định về cách thức lập văn khế… là các chế định sáng tạo của luật pháp Lý, Trần, nó phù hợp với điều kiện kinh tế và nếp sống quen thuộc của nhân dân ta.

1.6. Pháp luật thế kỉ XV – thế kỉ XVIII, Bộ quốc triều hình luật và bộ quốc triều khám tụng Điều lệ

Văn bản pháp luật thế kỉ XV – XVIII rất đa dạng và phong phú.

– Các văn bản đơn hành không những không những nhiều về số lượng mà còn phong phú đa dạng về hình thức như chiếu, sắc dụ, lệnh, lệ, chế, cáo…

– Những nhà làm luật rất chú trọng trong việc tập hợp hóa pháp luật. Trong lịch sử pháp luật phong kiến như thời kì này. Sau đây là một số tập luật lệ ở triều Lê:

+ Thiên Nam dư hạ tập Hổm có 100 quyên, dược biên soạn ở thời Hồng Đức. Ngày nay, bộ sách chỉ còn một số quyển chép một số bài  thơ của Lê Thánh Tông, ghi về công việc đánh Chiêm Thành, đặc biệt có quyến ghi một số lệnh, lệ với niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức.

– Hồng Đức Thiện chính thư, theo Vũ Văn Mẫu sách này được soạn vào khoảng năm 1541 – 1560.

–             Quốc triều hình thư khế ước cũng không rõ được biên soạn vào thời gian nào. Sách này ghi chép một số văn tự như chúc thư, văn khế cầm cố ruộng đất, văn khế thuê ruộng, văn khế nuôi con nuôi. Trong các văn tự này đều ghi niên hiệ Thống Nguyên niên hiệu của vua Lê Cung Hoàng 1522 – 1527.

– Quốc triều Chiếu lệnh thiện chính'” được biên soạn ờ đời Lê Dụ Tông (1706 – 1729). Sách này gồm mội số luật lệ. cũng được sáp xếp theo thẩm quyền cùa lục bộ- Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

– Lê triều hội điển không rõ thời gian biên soạn. Sách gồm một số luật lệ, cũng được sáp xếp theo thẩm quyền của lục bộ.

Về pháp điển khóa có hai Bộ luật:

– Quốc triều hình luật;

– Quốc triều khám tụng điều lệ.

Nhìn chung pháp luật thế kí XV – XVIII không những đồ sộ về khối lượng, mà còn phong phú về hình thức văn bản và đa dạng về lĩnh vực điều chính.

Những thành tựu lập pháp trong thời kì này nhất là ở thời kì Lê sơ, mà đỉnh cao là thời kì Lê Thánh Tông đã trở thành mẫu mực, các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, triều đại sau có lĩnh vực cũng không thế vượt qua và phải lấy đó để noi theo

1.7. Pháp luật triều Nguyễn (1802 – 1884)

Từ Gia Long đến Tự Đức, các Hoàng đế đều quan tâm đến xây dựng luật pháp và chú trọng đến áp dụng pháp luật. Hoạt động lập pháp của triều Nguyền cũng đã có những những thành lựu đáng kể. Thành tựu điển hình trong hoạt động lập pháp của triều Nguyễn là bộ Hoàng Việt luật lệ và các tập hội điển.

Hoại động lập pháp của triều Nguyễn đã có những thành tựu đáng kể. Bộ hoàng Việt luật lệ và những tập Hội điển lớn được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc điêu chinh các quan hệ xã hội thuộc nhiêu lĩnh vực trên nhiều lãnh thổ Việt Nam.

Về kĩ thuật lập pháp, cũng như pháp luật triều Lê, pháp luật triều Nguyễn thiên về luật thực hành hơn là tống luận.

Về tính chất, đó là pháp luật của chế độ dân chủ chuyên chế phong kiến, thể hiện tư tưởng chính trị pháp lý Nho giáo, ở mức độ nhất định có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị đồng thời vẫn chú trọng tới phong tục tập quán của chế độ làng xã Việt Nam.

Hoàng Việt luật lệ là bộ luật có quy mô lớn, có phạm vi điều chỉnh bao quát nhiều lĩnh vực và lần đầu tiên được áp dụng từ Đàng Trong đến Đàng Ngoài, góp phân điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phong phú, đa dạng phức tạp của xã hội Việt Nam thế kỉ XIX.

  1. Bản chất của pháp luật phong kiến
  2. Đánh giá đặc điểm cơ bản của pháp luật phong kiến
  3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam qua việc học tập những giá trị của pháp luật phong kiến

Kết luận bài Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam

Nghiên cứu pháp luật phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ, chúng ta có quyền tự hào về một di sản pháp luật mà những thế hệ trước đây đã dành nhiều công sức và trí tuệ để xây dựng, ban hành. Những giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp, những bài học kinh nghiệm sâu sắc từ những trang cổ luật, đang và sẽ tiếp tục được tham khảo và phát huy trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng một nền văn hóa nhân quyền bền vững ở nước ta hiện nay[9]. Từ việc xây dựng bộ máy chính quyền có sự giám sát quyền lực, xây dựng pháp luật đến việc áp dụng
pháp luật chú ý đến quyền con người, đặc biệt là những nhóm yếu thế trong xã hội, đồng thời đặt ra trách nhiệm của những chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước phải chịu trách nhiệm về những sai phạm, can thiệp những quyền con người một cách trái pháp luật…tất cả đều là những bài học rất đáng kế thừa trong việc phát triển đất nước giai đoạn hiện nay. Những giá trị nhân văn sâu sắc của các bộ luật xưa cũng là những cơ sở để giáo dục truyền thống, xây dựng những con người Việt Nam có thể hội nhập với thế giới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc đã được khẳng định và bảo tồn trong suốt chiều dài lịch sử.Tiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

Tuy nhiên, những truyền thống đó có mặt tiến bộ, tích cực, đồng thời cũng có mặt hạn chế, tiêu cực do yếu tố lịch sử. Trong bối cảnh chung, điều kiện chung về kinh tế – xã hội – chính trị thời kỳ phong kiến, pháp luật phong kiến Việt Nam có nhiều quy định chưa thoát ra được hoàn cảnh lịch sử để bảo vệ con người. Trong lễ giáo phong kiến khắt khe, con người bị trói buộc trong rất nhiều nghĩa vụ, bổn phận với gia đình, với làng nước, với xã hội mà không có ý thức về quyền cá nhân. Tư tưởng về trách nhiệm nhà nước thời kỳ phong kiến Việt Nam hoàn toàn không tương đồng với nội dung yêu cầu về vai trò, trách nhiệm của nhà nước phục vụ nhân dân cũng như trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và nhân dân trong hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay. Bởi vậy, chúng ta chủ động kế thừa phát huy những yếu tố tốt đẹp nhưng cũng phải khắc phục những yếu tố lạc hậu của truyền thống để góp phần bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOTiểu luận Pháp luật phong kiến Việt Nam,

  1. Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, 2, 3, 4, Nxb Khoa học xã hội, 1993
  2. Ngô Thị Thu Hoài (2019), Bảo đảm quyền con người trong pháp luật phong kiến Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội.
  3. Phạm Thị Lan Hương và Phạm Thị Duyên Thảo (2018), “Tư tưởng đề cao pháp luật trong các triều đại phong kiến Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 08).
  4. Vũ Văn Mẫu (1974), Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử, quyển nhất, tập nhất, Nxb, Đại học Luật khoa.
  5. Trường đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân.
  6. Trường đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.
  7. Viện Nhà nước và pháp luật (1994), Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt
    Nam thế kỷ XV – thế kỷ XVIII, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[1] Vũ Văn Mẫu (1974), Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử, quyển nhất, tập nhất, Nxb, Đại học Luật khoa.

[2] Phan Thị Lan Hương và Phạm Thị Duyên Thảo (2018), “Tư tưởng đề cao pháp luật phong kiến Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 8),

[3] Trường Đại học luật hà nội (2009), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr.25.

[4] Trường Đại học luật hà nội (2009), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr.26.

[5] Trường Đại học luật hà nội (2009), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr.26.

[6] Trường Đại học luật hà nội (2009), Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr.34.

[7] Xem Dân Việt sử ký toàn thư, tập II, tr.243.

[8] Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, 2, 3, 4, Nxb Khoa học xã hội, 1993.

[9] Ngô Thị Thu Hoài (2019), Bảo đảm quyền con người trong pháp luật phong kiến Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học,  Học viện khoa học xã hội, tr.148.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Contact Me on Zalo