Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa

Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hoá
Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hoá

Bài viết sau đây Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa là một trong những đề tài hoàn toàn hữu ích mà ngay bây giờ đây mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn cùng xem và tham khảo. Nguồn tài liệu mình đã tiến hành triển khai như là khái quát về hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu,các lưu ý về đàm phán soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu,các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển quyền sở dụng nhãn hiệu hàng hoá… Hy vọng nguồn tài liệu này sẽ cung cấp được cho các bạn thật nhiều kinh nghiệm để nhanh chóng triển khai tốt bài tiểu luận của mình.

Ngoài ra, hiện tại bên mình có nhận viết thuê tiểu luận với đa dạng các đề tài phổ biến nhất hiện nay, cho nên nếu như bạn đang có nhu cầu cần viết thuê một bài tiểu luận thì đừng chần chừ nữa mà thay vào đó là hãy liên hệ ngay đến dịch vụ viết thuê tiểu luận của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.  

1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu

“Chuyển nhượng nhãn hiệu là chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN. Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 141 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 là “việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình”. “Vì vậy có thể hiểu chuyển nhượng nhãn hiệu (hay còn gọi là chuyển nhượng nhãn hiệu) là việc chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép một cá nhân, tổ chức khác sử dụng nhãn hiệu của mình trên một vùng lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó nhãn hiệu được chuyển nhượng nhãn hiệu phải thuộc quyền sử dụng của bên giao chuyển nhượng nhãn hiệu. Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu thời hạn bảo hộ (thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ) trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tổ chức, cá nhân khác muốn sử dụng nhãn hiệu đang trong thời hạn bảo hộ nhằm mục đích thương mại phải được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép. Chuyển nhượng nhãn hiệu là một hình thức khai thác quyền sở hữu công nghiệp, qua đó chủ sở hữu nhãn hiệu thu về một khoản tiền (phí chuyển quyền sử dụng) hoặc lợi ích vật chất khác mà không phải trực tiếp sử dụng nhãn hiệu. Hình thức này đặc biệt thích hợp đối với chủ sở hữu nhãn hiệu không hoạt động kinh doanh hoặc không có năng lực kinh doanh. Chuyển nhượng nhãn hiệu còn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư nghiên cứu – triển khai, hạn chế độc quyền”.

XEM THÊM :Báo Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Thông thường sẽ có các loại chuyển nhượng nhãn hiệu sau: i) chuyển nhượng nhãn hiệu đơn giản; ii) chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền; iii) chuyển nhượng nhãn hiệu đầy đủ; iv) chuyển nhượng nhãn hiệu thứ cấp; v) chuyển nhượng nhãn hiệu trao đổi. “Chuyển nhượng nhãn hiệu đơn giản (Chuyển nhượng nhãn hiệu không độc quyền) là sự thỏa thuận, trên cơ sở đó bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu được quyền sử dụng nhãn hiệu theo những điều kiện quy định trong hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu nhưng bên chuyển nhượng nhãn hiệu vẫn giữ cho mình hoặc có thể chuyển giao cho bên thứ ba (cũng theo những điều kiện tương tự) quyền sử dụng tri thức đã chuyển giao cho bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu. – Chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền là sự thỏa thuận mà trên cơ sở đó bên chuyển nhượng nhãn hiệu cho phép bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trong phạm vi quy định trong hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu về lãnh thổ, thời gian. Bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu được toàn quyền sử dụng nhãn hiệu còn bên chuyển nhượng nhãn hiệu cam kết không độc lập khai thác nhãn hiệu đó và không chuyển giao chuyển nhượng nhãn hiệu tương tự cho bên thứ ba. Trong thực tiễn giao dịch thương mại quốc tế hiện đại, chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền ngày càng được áp dụng rộng rãi – Chuyển nhượng nhãn hiệu đầy đủ là thỏa thuận mà theo đó, bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu có đầy đủ quyền sử dụng nhãn hiệu theo những điều kiện đã được trong hợp đồng. Chỉ được coi là chuyển nhượng nhãn hiệu đầy đủ khi bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu có toàn quyền sử dụng nhãn hiệu tương tự như chủ sở hữu nhãn hiệu. Bên nhận chuyển nhượng nhãn hiệu, về thực chất sẽ có được các quyền hạn của chủ sở hữu. Với việc công nhận chuyển nhượng nhãn hiệu đầy đủ, bên chuyển nhượng nhãn hiệu vẫn giữ về mặt hình thức quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nhưng lại từ bỏ quyền được độc lập khai thác, sử dụng cũng như không được chuyển giao nhãn hiệu hàng hóa cho bất kỳ bên thứ ba nào trong thời gian chuyển nhượng nhãn hiệu còn hiệu lực”. Chuyển nhượng nhãn hiệu thứ cấp là chuyển nhượng nhãn hiệu mà bên chuyển nhượng nhãn hiệu không phải chủ sở hữu nhãn hiệu mà là người được chuyển giao chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền hoặc đầy đủ. Phạm vi quyền hạn được chuyển giao trên cơ sở chuyển nhượng nhãn hiệu thứ cấp nói chung hẹp hơn so với chuyển nhượng nhãn hiệu độc quyền hoặc chuyển nhượng nhãn hiệu đầy đủ.  Chuyển nhượng nhãn hiệu trao đổi là sự thỏa thuận mà theo đó các bên tham gia hợp đồng chuyển giao cho nhau nhãn hiệu hàng hóa.   

2. Các lưu ý về đàm phán, soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu

Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa chuyển nhượng nhãn hiệu là thuật ngữ chỉ việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. “Để phân tích khái niệm hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu thì cần phân tích quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp hay quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là gì. Đối với nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ thể quyền thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh… hay lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ”[1] . “Đối với sáng chế, quyền sử dụng sáng chế là quyền cho phép chủ sở hữu khai thác đối tượng SHCN thông qua các hành vi như sản xuất sản phẩm được bảo hộ, áp dụng quy trình được bảo hộ”5… “Chủ sở hữu đối tượng SHCN có toàn quyền sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt đối tượng SHCN. Trong đó, quyền sử dụng của chủ sở hữu là quan trọng nhất, cho phép chủ sở hữu có quyền khai thác các lợi ích vật chất của đối tượng SHCN. Theo đó, chủ sở hữu dùng quyền của mình hoặc chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN”.

“ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được quy định chi tiết tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 ( Luật SHTT). Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân khi ký kết hai hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu này cần chú ý điểm khác biệt, cụ thể: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu là sự thỏa thuận giữa các bên mà trong đó chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu cho bên nhận chuyển nhượng. Từ thời điểm hợp đồng được đăng ký tại cơ quạn nhà nước có thẩm quyển, bên nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn mà các bên đã thỏa thuận. Chủ thể của hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu gồm hai bên: Bên chuyển quyền sử dụng (bên giao) và bên đƣợc chuyển quyền sử dụng (bên nhận)”.

XEM THÊM : Kho 999+ Bài Mẫu Tiểu Luận Khoa Luật Môn Luật

* “Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm”. “Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng”.

Đối với vấn đề đàm phán nói chung và đàm phán về HĐCN nhãn hiệu cần chú ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần tự soạn thảo bản dự thảo đầu tiên của Hợp đồng, bởi như vậy các bên sẽ có nhiều lợi thế trong khi đàm phán, đồng thời còn có thể đưa ra những điều khoản có lợi nhất cho mình. Đồng thời, không tự mình soạn thảo: Các bên nên tự soạn thảo bản dự thảo đầu tiên của Hợp đồng, bởi như vậy các bên sẽ có nhiều lợi thế trong khi đàm phán, đồng thời còn có thể đưa ra những điều khoản có lợi nhất cho mình.

Thứ hai, chú trọng điều khoản thanh toán không rõ ràng: “Hầu hết mọi người đều hiểu rằng các điều khoản thanh toán là phần không thể thiếu trong hợp đồng và không được phép bỏ qua hay để tới tận khi ký kết hợp đồng mới xem xét”.

Thứ ba, chú trọng vào các điều khoản chung: “Hợp đồng phải có các điều khoản chung. Đó không chỉ là các căn cứ pháp luật mà còn là những vấn đề cơ bản quyết định việc tham gia vào hợp đồng bao gồm: Lý do ký kết hợp đồng với đối tác là gì? Kinh nghiệm, cam kết, khi nào đồng ý thực hiện…”

Thứ tư, không chú trọng khi tự mình suy diễn vào khi soan thảo các điều khoản. Đừng suy diễn khi soạn thảo hợp đồng. Như vậy có ý nghĩa là các bên phải quy định rõ ràng tất cả cácnghĩa vụ và các tình huống giả định trong hợp đồng. “Nếu chưa hiểu rõ điều khoản nào của hợp đồng hãy hỏi lại cho kỹ và ngược lại, nếu đối tác chưa hiểu điều nào, các bên hãy giải thích cho rõ.

Tiểu Luận Pháp Luật Về Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa bỏ sót một số điều khoản: “Trong trường hợp tranh chấp, bên thua kiện phải trả chi phí cho luật sư của bên thắng kiện. Tất cả những sửa đổi của hợp đồng phải được lập thành văn bản. Không được chuyển nhượng hợp đồng cho bên thứ ba”.

Thứ tư, không đàm phán mọi thứ về tất các cả điều khoản trong hợp động chuyển nhượng nhãn hiệu

* Về ký kết hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu

Do đối với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu các bên không nhất thiết phải đăng ký tại Cục SHTT nên không thể xác định một cách chính xác các dữ liệu về hợp đồng này. Vì vậy, phần này được viết trên cơ sở số lượng hợp đồng đăng ký tại Cục SHTT và các dữ kiện hợp đồng được tư vấn tại các công ty tư vấn luật chuyên về SHTT. “Bộ luật Dân sự xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thoả thuận của các bên, không phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng. Do đó, về mặt nguyên tắc, hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết của bên được đề nghị. Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu các bên có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết. Trên cơ sở hình thức của hợp đồng, pháp luật cũng quy định cụ thể đối với từng trường hợp, ví dụ, đối với hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”[2].

“ Về mặt nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết, tuy nhiên doanh nghiệp cần biết rằng vẫn có các ngoại lệ đó là khi các bên có thoả thuận khác, ví dụ hợp đồng được các bên ký vào ngày 01/01/2009 nhưng các bên thoả thuận là hợp đồng được coi là ký kết vào ngày 01/02/2009 hoặc khi pháp luật có quy định khác, ví dụ theo pháp luật về đất đai thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp là thời điểm đăng ký chứ không phải là thời điểm các bên ký hợp đồng và công chứng xác nhận. Trên thực tế nhiều doanh nghiệp không biết rõ quy định này và vì một lý do nào đó mà không đăng ký nên rủi ro pháp lý là rất lớn”. “Vấn đề uỷ quyền ký kết hợp đồng không được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể, tuy nhiên, vì hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự cho nên có thể áp dụng các quy định về việc uỷ quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Theo đó cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện hợp đồng theo chế định người đại diện”. “Vì hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu không bắt buộc các chủ thể tham gia phải đăng ký, gây ảnh hưởng đến số lượng hợp đồng được đăng ký. Cục SHTT chỉ ghi nhận thông tin về các hợp đồng được đăng ký, do đó khó có thể nắm được số lượng hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu được ký kết trong thực tế”.

Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa thực trạng về chủ thể giao kết hợp đồng: “Các chủ thể có nhu cầu đều có thể tham gia vào hoạt động chuyển quyền SHTT đối với nhãn hiệu. Lấy tiêu chí quốc tịch của các bên tham gia trong mối quan hệ này, có thể đưa ra hai đối tượng chuyển giao chính: người Việt Nam và người nước ngoài. Từ đó, hình thành lên ba mối quan hệ hợp đồng: giữa người Việt Nam với người Việt Nam, giữa người Việt Nam với người nước ngoài, và giữa người nước ngoài với người nước ngoài. Cục SHTT cũng ghi nhận về số lượng của hai hình thức hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu  qua ba mối quan hệ này.  Về cơ cấu theo chủ thể, hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu nói chung có xu hướng là giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Việt Nam với nhau, giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trong khi đó số lượng hợp đồng chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu giữa các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài còn thấp”.

Qua nghiên cứu các hợp đồng được đăng bạ, điểm chung giữa các hợp đồng là:

Thứ nhất, nội dung hợp đồng đăng bạ khá đơn giản. Có những hợp đồng chỉ một trang. Có thể hiểu rằng đây là hợp đồng chỉ dùng để đăng bạ. Nội dung thực sự của hợp đồng chắc chắn dài và chi tiết hơn.

Thứ hai, điều khoản giá trong hợp đồng đăng bạ, các bên thường lựa chọn mức giá 1 đô la Mỹ. Mục tiêu rõ ràng là tránh thuế. Đây cũng là khoảng trống pháp lý cần được lấp trong thời gian tới nhằm tranh thất thu cho ngân sách.

Thứ ba, về các điều khoản trong hợp đồng chuyển giao giữa bên nước ngoài và bên Việt Nam, một thực tế được thừa nhận ở rất nhiều văn phòng luật sư và bản thân doanh nghiệp tham gia giao dịch là hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thòi đặc biệt là về vấn đề giá cả và phạm vi quyền đối với nhãn hiệu chuyển giao.

Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng không có một hệ thống thông tin chính thống, và ngại chia sẻ thông tin giữa chính các doanh nghiệp, dẫn đến vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin, phải chịu lép vế trong các hợp đồng chuyển giao với các đối tác nước ngoài. Bên cạnh lý do các doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm, Việt Nam vẫn thiếu các tổ chức nhiều kinh nghiệm tư vấn chuyên nghiệp trong lĩnh vực chuyển giao quyền, nếu có cũng chỉ là con số ít ỏi, không thể đáp ứng hết nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp còn nhầm lẫn giữa các thuật ngữ “li- xăng hay chuyển nhượng nhãn hiệu” với “ nhượng quyền thương mại”. Việc nhầm lẫn này khiến cho việc giao kết hợp đồng gặp nhiều khó khăn như nội dung và hình thức của hợp đồng không phù hợp khiến hợp đồng không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, việc thiếu hiểu biết về luật pháp, các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu hay các đối tượng SHTT được bảo hộ mà khi giao kết hợp đồng, các doanh nghiệp không đưa ra thỏa thuận được các điều khoản chặt chẽ sẽ bất lợi nếu xảy ra tranh chấp hoặc vi phạm quyền SHTT của bên đối tác.

Hầu hết các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm trong hoạt động này, còn ngần ngại, chưa chủ động trong việc tìm kiếm đối tác cũng như tham gia vào hoạt động chuyển giao. Phần lớn các doanh nghiệp không có bộ phận chuyên trách về SHTT, chưa quan tâm xây dựng tài sản SHTT của mình.Trong quá trình đàm phán, nhiều chủ thể chưa tìm hiểu kỹ về đối tác, chưa thực sự quan tâm đến các điều khoản hợp đồng, chỉ đề cập một cách chung chung không đầy đủ.

Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do việc tuyên truyền phổ biến thông tin về SHTT nói chung và hoạt động chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu nói riêng của cơ quan chức năng còn hạn chế. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của các thông tin liên quan cũng như các quy định pháp luật về việc chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu mà nắm vững để vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình.  

Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hoá
Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hoá

3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển quyền sở dụng nhãn hiệu hàng hóa

– Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trinh đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền Trong thời gian qua, các quy định về hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu đã dần hoàn thiện và phù hợp hơn với các quy định quốc tế.

– Rút ngắn thời hạn xét duyệt đơn đăng ký chuyển giao quyền SHCN: “Thời hạn xét duyệt đơn đăng ký chuyển giao quyền SHCN hiện nay khoảng 2 tháng (sau đó mất thêm 2 tháng để đợi cấp GCN). Khoảng thời gian này là tương đối lớn. Tuy nhiên, sau khi triển khai hệ thống nộp đơn điện tử phi trực tuyến và tiến tới nộp đơn trực tuyến, thời gian tiếp nhận hồ sơ chắc chắn được rút ngắn. Thêm vào đó, cơ sở dữ liệu để cán bộ Cục SHTT tra cứu, kiểm tra về tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng ngày càng phong phú hơn do có thư viện điện tử về thông tin SHTT. Đồng thời, các chương trình đào tạo của Cục SHTT dành cho cán bộ nhân viên của mình về nghiệp vụ trong quá trình xử lý đơn và các lớp huấn luyện sử dụng hệ thống nộp đơn trực tuyến và phi trực tuyến, cũng như kỹ năng khai thác hệ thống thông tin SHTT”.

– Hoàn thiện các quy định về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo hướng cân đối giữa vai trò quản lý của Nhà nước và sự đảm bảo nguyên tắc tự do hợp đồng. “Chi tiết hóa những nội dung cần thiết hoặc các yêu cầu đối với các yêu cầu đối với những điều khoản quan trọng trong hợp đồng chuyển giao quyền SHCN nói chung. Những nội dung này có thể học tập các quy định của Pháp”.

Bài viết trên đây là toàn bộ bài Tiểu Luận Pháp Luật Về Hợp Đồng Chuyển Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu Hàng Hóa mà mình đã liệt kê và đồng thời triển khai đến cho các bạn tha hồ xem và tham khảo. Ngoài ra, nếu như nguồn tài liệu trên đây chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của bạn thì đừng chần chừ chừ nữa mà hãy liên hệ ngay đến dịch vụ nhận làm tiểu luận của chúng tôi qua zalo/telegram : 0917.193.864 để được tư vấn báo giá làm bài trọn gói và hỗ trợ từ A đến Z nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Trần Khánh Ly, Luận văn thạc sĩ luật học (2015),”Chuyển giao quyền sử dụng các đối tƣợng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội

[2] Xem BLDS 2015

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*